Xóa dữ liệu kế toán của công ty để che giấu hành vi phạm tội bị xử lý thế nào?

Dữ liệu kế toán như sổ sách, chứng từ, hóa đơn, báo cáo tài chính, dữ liệu giao dịch và thông tin trên phần mềm kế toán có thể là căn cứ quan trọng để xác định hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, hành vi xóa dữ liệu kế toán của công ty để che giấu hành vi phạm tội không chỉ vi phạm nghĩa vụ bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán mà trong một số trường hợp còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, không phải cứ xóa một file kế toán hoặc làm mất dữ liệu là đương nhiên phạm tội. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định dữ liệu bị xóa là gì, người thực hiện có chức vụ, quyền hạn hay không, hành vi xóa có gây thiệt hại hoặc cản trở hoạt động của hệ thống điện tử hay không và đặc biệt là mục đích xóa dữ liệu để che giấu hành vi phạm tội nào.

Xóa dữ liệu kế toán để che giấu tội phạm có bị truy cứu hình sự không?

Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy vào hành vi cụ thể.

Luật Kế toán quy định đơn vị kế toán có trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo quản và lưu trữ tài liệu kế toán. Tài liệu kế toán phải được bảo quản an toàn và nhiều loại tài liệu phải lưu trữ trong thời hạn tối thiểu 05 năm hoặc 10 năm tùy loại.

Đáng chú ý, Điều 221 Bộ luật Hình sự quy định Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Một trong các hành vi được điều luật đề cập là hủy bỏ hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu kế toán trước thời hạn lưu trữ nếu đáp ứng các điều kiện về chủ thể và hậu quả theo luật định.

Trong trường hợp dữ liệu kế toán được lưu trữ dưới dạng điện tử, việc cố ý xóa dữ liệu còn phải được xem xét dưới góc độ pháp luật về dữ liệu điện tử nếu hành vi đáp ứng các dấu hiệu của tội phạm tương ứng.

Xóa dữ liệu kế toán có thể phạm Tội vi phạm quy định về kế toán

Đây là một trong những hướng xử lý đáng chú ý nhất nếu người thực hiện có lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong hoạt động kế toán.

Hành vi nào có thể bị xử lý theo Điều 221?

Điều 221 Bộ luật Hình sự quy định một số hành vi như:

  • Giả mạo, khai man, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán;
  • Dụ dỗ, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật;
  • Để ngoài sổ kế toán tài sản của đơn vị;
  • Hủy bỏ hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu kế toán trước thời hạn lưu trữ;
  • Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên nhằm bỏ ngoài sổ kế toán tài sản, nguồn vốn, kinh phí của đơn vị.

Ở khung cơ bản, nếu hành vi gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng người thực hiện đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Thiệt hại càng lớn, mức phạt càng cao

Điều 221 quy định các khung hình phạt cao hơn khi có tình tiết như vì vụ lợi, có tổ chức, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc gây thiệt hại từ 300 triệu đồng trở lên.

Nếu gây thiệt hại từ 1 tỷ đồng trở lên, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Ngoài ra còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, việc xóa dữ liệu kế toán để che giấu sai phạm không chỉ được đánh giá dựa trên số lượng file hoặc chứng từ bị xóa mà còn phải xem xét hậu quả thực tế do hành vi gây ra.

Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Không phải mọi trường hợp nhân viên xóa nhầm hoặc làm mất dữ liệu kế toán đều bị xử lý hình sự. Để xác định trách nhiệm theo Điều 221, cần làm rõ quyền hạn của người thực hiện, tính chất tài liệu bị xóa, thời điểm xóa, mục đích xóa và hậu quả do hành vi gây ra.

Xóa dữ liệu kế toán điện tử có thể bị xử lý về tội liên quan dữ liệu máy tính không?

Có thể, nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của tội phạm tương ứng.

Điều 287 Bộ luật Hình sự quy định Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử. Điều luật trực tiếp đề cập hành vi tự ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu điện tử trong những trường hợp luật định.

Ở khung cơ bản, hành vi có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp luật định, chẳng hạn gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức trong khoảng thời gian nhất định.

Do đó, nếu người có quyền truy cập hệ thống kế toán cố tình đăng nhập, xóa cơ sở dữ liệu, xóa lịch sử giao dịch hoặc làm thay đổi dữ liệu nhằm cản trở hoạt động của hệ thống và gây hậu quả thuộc trường hợp luật định, hành vi có thể được xem xét theo Điều 287.

Tuy nhiên, không nên mặc nhiên áp dụng Điều 287 cho mọi trường hợp xóa file kế toán. Cần xác định hệ thống bị tác động, cách thức xóa, hậu quả và các điều kiện cụ thể của điều luật.

Xóa dữ liệu để che giấu hành vi trốn thuế có thể bị xử lý thế nào?

Nếu dữ liệu bị xóa nhằm che giấu hành vi trốn thuế, trách nhiệm hình sự có thể được xem xét đối với tội trốn thuế nếu các điều kiện của Điều 200 Bộ luật Hình sự được đáp ứng.

Điều 200 quy định nhiều hành vi có thể cấu thành tội trốn thuế, trong đó có việc không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng tài liệu không hợp pháp để xác định sai số tiền thuế.

Theo quy định hiện hành, trường hợp trốn thuế với số tiền từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định, có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Mức hình phạt tăng lên khi số tiền trốn thuế từ 300 triệu đồng và đặc biệt từ 1 tỷ đồng trở lên.

Vì vậy, nếu người quản lý doanh nghiệp xóa dữ liệu doanh thu, hóa đơn hoặc giao dịch nhằm che giấu số tiền phải kê khai thuế, cần xem xét hành vi xóa dữ liệu và hành vi trốn thuế một cách riêng biệt để xác định trách nhiệm pháp lý.

Xóa dữ liệu để che giấu tội phạm của người khác có thể bị xử lý về Tội che giấu tội phạm không?

Có thể, nhưng phải đáp ứng những điều kiện rất cụ thể.

Điều 18 Bộ luật Hình sự quy định người không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm đã được thực hiện mà che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp Bộ luật Hình sự quy định.

Điều 389 quy định Tội che giấu tội phạm và liệt kê các tội phạm mà hành vi che giấu có thể bị xử lý hình sự. Khung cơ bản là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

Ví dụ, giám đốc A thực hiện một tội phạm về tài chính. Sau khi biết rõ hành vi phạm tội của A, kế toán B không hứa hẹn trước nhưng cố tình xóa chứng từ, xóa dữ liệu giao dịch nhằm giúp A tránh bị phát hiện. Khi đó, ngoài việc xem xét hành vi xóa tài liệu kế toán hoặc dữ liệu điện tử, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét dấu hiệu che giấu tội phạm nếu tội phạm mà A thực hiện thuộc phạm vi Điều 389.

Người tự xóa dữ liệu để che giấu chính tội phạm của mình thì sao?

Đây là điểm cần phân biệt.

Không nên hiểu rằng cứ xóa dữ liệu để che giấu một hành vi phạm tội là đương nhiên bị thêm Tội che giấu tội phạm theo Điều 389.

Điều 18 và Điều 389 tập trung vào trường hợp người thực hiện hành vi che giấu một tội phạm của người khác theo các điều kiện luật định. Vì vậy, nếu chính người phạm tội xóa dữ liệu để che giấu hành vi phạm tội của mình, cơ quan tố tụng phải xác định hành vi xóa dữ liệu có cấu thành một tội độc lập khác hay chỉ là hành vi nhằm che giấu tội phạm đã thực hiện.

Xóa dữ liệu kế toán sau khi cơ quan chức năng bắt đầu kiểm tra có bị xử lý nặng hơn không?

Thời điểm xóa dữ liệu có thể có ý nghĩa quan trọng khi đánh giá vụ việc.

Nếu doanh nghiệp đang bị thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc điều tra mà người có trách nhiệm cố tình xóa dữ liệu nhằm làm mất dấu vết giao dịch, hành vi này có thể là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền làm rõ mục đích che giấu, ý thức chủ quan và vai trò của người thực hiện.

Đặc biệt, nếu người xóa dữ liệu biết rõ tài liệu có liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm hoặc tội phạm đang được xác minh mà vẫn cố tình tiêu hủy, việc này khác về bản chất so với trường hợp dữ liệu bị mất do lỗi kỹ thuật, sự cố hệ thống hoặc nguyên nhân khách quan.

Luật Kế toán cũng quy định khi tài liệu kế toán bị mất hoặc bị hủy hoại, đơn vị kế toán phải kiểm tra, xác định, lập biên bản về số lượng, hiện trạng và nguyên nhân; đồng thời thực hiện việc phục hồi, sao chụp hoặc xác nhận lại tài liệu trong những trường hợp phù hợp.

Trường hợp nào xóa dữ liệu kế toán không bị xử lý hình sự?

Không phải mọi hành vi xóa dữ liệu đều dẫn đến trách nhiệm hình sự.

Chẳng hạn:

Xóa dữ liệu do sự cố kỹ thuật: Máy tính bị lỗi, ổ cứng hỏng, phần mềm gặp sự cố hoặc dữ liệu bị mất do nguyên nhân khách quan thì không thể chỉ dựa vào việc dữ liệu bị mất để kết luận có tội.

Xóa dữ liệu đã hết thời hạn lưu trữ đúng quy trình: Việc hủy tài liệu phải tuân thủ quy định về thời hạn và thủ tục hủy. Pháp luật về lưu trữ điện tử yêu cầu tài liệu hết giá trị được hủy theo thẩm quyền, thủ tục và phải bảo đảm thông tin đã hủy không thể khôi phục.

Xóa file tạm hoặc dữ liệu không thuộc tài liệu kế toán: Nếu dữ liệu không phải tài liệu kế toán cần lưu trữ và việc xóa không gây ra hậu quả thuộc trường hợp luật định thì chưa đủ cơ sở để kết luận có trách nhiệm hình sự.

Ngược lại, việc cố tình xóa chứng từ, sổ kế toán hoặc dữ liệu giao dịch còn trong thời hạn lưu trữ để che giấu sai phạm cần được xem xét nghiêm túc.

Ví dụ thực tế về xóa dữ liệu kế toán để che giấu tội phạm

Kế toán xóa dữ liệu doanh thu để che giấu trốn thuế

Công ty A có doanh thu thực tế 20 tỷ đồng nhưng cố tình không ghi nhận một phần doanh thu vào hệ thống kế toán để giảm số thuế phải nộp.

Sau khi biết cơ quan chức năng chuẩn bị kiểm tra, kế toán trưởng xóa các dữ liệu giao dịch liên quan.

Trong trường hợp này, cơ quan chức năng có thể xem xét cả hành vi liên quan đến trốn thuế, vi phạm quy định về kế toán và việc xóa dữ liệu điện tử, tùy chứng cứ và hậu quả thực tế.

Nhân viên xóa dữ liệu theo yêu cầu của giám đốc

Giám đốc biết công ty có hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu nhân viên kế toán xóa chứng từ để tránh bị phát hiện.

Nếu nhân viên biết rõ mục đích nhưng vẫn cố ý thực hiện, trách nhiệm của giám đốc và nhân viên phải được xem xét dựa trên vai trò, nhận thức và mức độ tham gia của từng người.

Không phải cứ là nhân viên thực hiện thao tác xóa dữ liệu thì đương nhiên là người chịu trách nhiệm chính.

Dữ liệu bị mất do hỏng máy chủ

Máy chủ của doanh nghiệp bị cháy khiến toàn bộ dữ liệu kế toán bị mất.

Nếu doanh nghiệp chứng minh được nguyên nhân khách quan và thực hiện việc lập biên bản, phục hồi, sao chụp, đối chiếu tài liệu theo quy định thì đây là trường hợp hoàn toàn khác với việc cố tình xóa dữ liệu nhằm che giấu hành vi phạm tội.

Doanh nghiệp có trách nhiệm gì khi dữ liệu kế toán bị mất hoặc bị hủy?

Khi tài liệu kế toán bị mất hoặc bị hủy hoại, doanh nghiệp không nên tự ý xóa hoặc bỏ qua sự việc.

Luật Kế toán yêu cầu đơn vị kế toán phải kiểm tra, xác định và lập biên bản về số lượng, hiện trạng, nguyên nhân; tổ chức phục hồi tài liệu bị hư hỏng; liên hệ các bên liên quan để sao chụp hoặc xác nhận lại tài liệu và thực hiện các biện pháp cần thiết đối với tài liệu liên quan đến tài sản.

Điều này cũng cho thấy sự khác biệt cơ bản giữa mất dữ liệu khách quan và cố ý xóa dữ liệu. Một bên phát sinh nghĩa vụ khắc phục, phục hồi tài liệu; bên còn lại có thể làm phát sinh trách nhiệm hành chính hoặc hình sự tùy hành vi và hậu quả.

>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!

Đặt lịch tư vấn

Kết luận

Xóa dữ liệu kế toán của công ty để che giấu hành vi phạm tội có thể bị xử lý hình sự, nhưng không có một tội danh duy nhất áp dụng cho mọi trường hợp. Nếu hành vi thuộc các trường hợp luật định, người thực hiện có thể bị xem xét về Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 221 Bộ luật Hình sự; nếu cố ý xóa dữ liệu điện tử và đáp ứng điều kiện của Điều 287 thì có thể bị xử lý về tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử.

Nếu việc xóa dữ liệu nhằm che giấu hành vi như trốn thuế hoặc một tội phạm khác, trách nhiệm pháp lý còn phụ thuộc vào tội phạm nền, mục đích xóa dữ liệu, hậu quả, thời điểm thực hiện và vai trò của từng người. Đặc biệt, trường hợp một người xóa dữ liệu để che giấu tội phạm của người khác có thể đặt ra vấn đề về Tội che giấu tội phạm theo Điều 389, trong khi người tự xóa dữ liệu để che giấu chính hành vi của mình phải được đánh giá theo các tội danh tương ứng với hành vi thực tế.

Chat Zalo
Đặt Lịch

    PHIẾU ĐẶT LỊCH

    Vui lòng điền thông tin liên hệ và lựa chọn Hình thức tư vấn phù hợp với yêu cầu của bạn.






    Bạn vui lòng quét mã để thanh toán phí tư vấn và nhấn Đặt lịch tư vấn. Lưu ý: Lịch tư vấn chỉ được xác nhận khi thanh toán thành công. Trong vòng 05 phút, chúng tôi sẽ liên hệ để xác nhận và kết nối bạn với đội ngũ luật sư.


    Luật sư tư vấn trực tiếp

    Luật sư tư vấn Online

    Bạn cần thanh toán trước khi gửi phiếu đặt lịch