Việc làm giả bằng chứng để vu khống người khác có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị vu khống. Đặc biệt, nếu một người cố tình tạo dựng hình ảnh, tin nhắn, tài liệu, video hoặc chứng cứ giả rồi sử dụng để tố cáo người khác phạm tội, hành vi này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, không phải mọi tài liệu không chính xác hoặc mọi nội dung tố cáo sai đều mặc nhiên cấu thành tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định người thực hiện có biết rõ thông tin là sai sự thật hay không, có cố ý tạo dựng bằng chứng giả hay không, bằng chứng được sử dụng vào mục đích gì và hậu quả đối với người bị vu khống. Tùy trường hợp, người vi phạm có thể bị xử lý về Tội vu khống, Tội làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả và các tội danh khác nếu hành vi thực tế đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành.
Làm giả bằng chứng để vu khống người khác có bị truy cứu hình sự không?
Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 156 Bộ luật Hình sự quy định Tội vu khống, trong đó xử lý hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Vì vậy, nếu một người không chỉ nói sai sự thật mà còn cố tình tạo ra bằng chứng giả để làm cho thông tin bịa đặt có vẻ là sự thật, đây có thể là căn cứ quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét ý thức cố ý và thủ đoạn thực hiện hành vi.
Ví dụ, A biết B không thực hiện hành vi trộm cắp nhưng đã chỉnh sửa hình ảnh camera, tạo tin nhắn giả hoặc làm giả giấy tờ để chứng minh B có liên quan đến vụ trộm rồi gửi cho cơ quan công an. Nếu có đủ căn cứ chứng minh A biết rõ nội dung là giả nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm khiến B bị xử lý, hành vi có thể bị xem xét về Tội vu khống.
Tội vu khống được quy định như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi vu khống có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Tội phạm này có hai dạng hành vi đáng chú ý:
- Bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
- Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Do đó, nếu người phạm tội dựng bằng chứng giả để chứng minh cho một thông tin bịa đặt thì cần xem xét toàn bộ chuỗi hành vi, thay vì chỉ đánh giá riêng việc tạo ra tài liệu hoặc hình ảnh giả.
Làm giả bằng chứng để vu khống có thể bị phạt tù bao nhiêu năm?
Mức hình phạt phụ thuộc vào tình tiết cụ thể của vụ án.
Khung hình phạt cơ bản
Theo khoản 1 Điều 156, người phạm tội có thể bị:
- Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng;
- Cải tạo không giam giữ đến 02 năm;
- Hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Trường hợp có tình tiết tăng nặng
Khoản 2 Điều 156 quy định mức phạt tù từ 01 năm đến 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp như:
- Có tổ chức;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Vu khống từ 02 người trở lên;
- Vu khống người đang thi hành công vụ;
- Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
- Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Đáng chú ý, nếu người phạm tội làm giả bằng chứng rồi đăng tải lên mạng xã hội, gửi qua email, ứng dụng nhắn tin hoặc sử dụng phương tiện điện tử để lan truyền nội dung vu khống, tình tiết sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử có thể được đặt ra nếu đáp ứng điều kiện của khoản 2 Điều 156.
Trường hợp nghiêm trọng hơn
Khoản 3 Điều 156 quy định phạt tù từ 03 năm đến 07 năm nếu phạm tội vì động cơ đê hèn, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc làm nạn nhân tự sát.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Làm giả bằng chứng có bị xử lý thêm về Điều 341 không?
Có thể, nếu “bằng chứng giả” thuộc loại con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức và hành vi đáp ứng các dấu hiệu của Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Điều 341 quy định Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Điều luật xử lý cả hành vi làm giả và hành vi sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Ví dụ, một người muốn vu khống đồng nghiệp tham ô tiền của công ty nên:
- Làm giả quyết định của công ty;
- Làm giả phiếu thu, phiếu chi;
- Làm giả giấy xác nhận;
- Làm giả văn bản có chữ ký hoặc con dấu của doanh nghiệp;
- Sau đó sử dụng những tài liệu này để tố cáo người bị hại.
Trong trường hợp này, ngoài việc xem xét Tội vu khống, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải đánh giá hành vi làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả theo Điều 341.
Tuy nhiên, không phải mọi “bằng chứng giả” đều thuộc Điều 341. Chẳng hạn, việc tự dựng một đoạn hội thoại giả trên ứng dụng nhắn tin hoặc chỉnh sửa một hình ảnh không đương nhiên đồng nghĩa với việc cấu thành Tội làm giả tài liệu theo Điều 341. Việc định tội phải dựa vào bản chất của dữ liệu, cách thức tạo ra và quy định cụ thể của điều luật.
Lưu ý từ Luật sư Đặng Quý Tiên: Việc một người tố cáo không đúng sự thật chưa đủ để kết luận họ phạm Tội vu khống. Yếu tố quan trọng là phải chứng minh người đó biết rõ thông tin là sai sự thật nhưng vẫn cố ý bịa đặt, loan truyền hoặc tố cáo, đồng thời hành vi phải đáp ứng các dấu hiệu khác của Điều 156. Nếu có thêm hành vi tạo hoặc sử dụng tài liệu giả, từng hành vi cần được đánh giá độc lập.
Làm giả bằng chứng để tố cáo người khác phạm tội có bị xử lý nặng hơn không?
Có thể.
Điểm b khoản 1 Điều 156 đã quy định riêng hành vi bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Đặc biệt, nếu người bị vu khống bị cho là thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì đây là tình tiết thuộc khoản 2 Điều 156, với mức phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
Ví dụ, A biết B không giết người nhưng đã tạo dựng một loạt tin nhắn giả, chỉnh sửa hình ảnh và làm giả tài liệu rồi gửi cho cơ quan điều tra để tố cáo B giết người.
Trong trường hợp này, cơ quan chức năng sẽ phải xác minh:
- Nội dung tố cáo có phải là bịa đặt hay không;
- A có biết rõ nội dung đó sai sự thật hay không;
- A có trực tiếp tạo hoặc thuê người tạo bằng chứng giả hay không;
- Mục đích của A là gì;
- Tài liệu giả đã được sử dụng như thế nào;
- Hậu quả đối với B;
- Có đủ căn cứ xử lý thêm về hành vi làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả hay không.
Đăng bằng chứng giả lên mạng xã hội để vu khống bị xử lý thế nào?
Nếu người thực hiện sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện hành vi vu khống và đáp ứng các điều kiện của khoản 2 Điều 156, đây là tình tiết định khung tăng nặng.
Chẳng hạn, một người biết rõ đồng nghiệp không tham ô nhưng đã chỉnh sửa ảnh chụp giao dịch, tạo ảnh chụp màn hình tin nhắn giả rồi đăng lên Facebook hoặc gửi vào nhóm cộng đồng với nội dung người này tham ô tiền.
Nếu chứng minh được người đăng biết rõ thông tin là giả và cố ý lan truyền nhằm gây thiệt hại đến danh dự, quyền lợi của người bị hại, hành vi có thể được xem xét theo Điều 156.
Không phải cứ một bài đăng có thông tin sai là mặc nhiên phạm Tội vu khống. Yếu tố “biết rõ là sai sự thật” và mục đích, nội dung, cách thức lan truyền là những vấn đề cần được chứng minh.
Thuê người khác làm giả bằng chứng để vu khống thì ai chịu trách nhiệm?
Người thuê và người trực tiếp tạo bằng chứng giả đều có thể bị xem xét trách nhiệm nếu có đủ căn cứ chứng minh họ cố ý tham gia vào hành vi phạm tội.
Ví dụ, A muốn vu khống B nên thuê C chỉnh sửa camera và tạo ra đoạn video giả. A biết rõ video là giả nhưng vẫn sử dụng để tố cáo B.
Khi đó, cơ quan chức năng phải xác định vai trò của từng người. Nếu A và C có sự thống nhất ý chí và cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì có thể phát sinh vấn đề đồng phạm. Người thuê không thể đương nhiên phủ nhận trách nhiệm chỉ vì không trực tiếp thực hiện thao tác chỉnh sửa.
Ngược lại, nếu C chỉ thực hiện một công việc kỹ thuật mà không biết mục đích sử dụng bất hợp pháp của A thì trách nhiệm hình sự của C phải được đánh giá trên cơ sở nhận thức và hành vi thực tế.
Làm giả bằng chứng nhưng người bị vu khống chưa bị xử lý có phạm tội không?
Có thể vẫn bị xử lý hình sự.
Tội vu khống không đòi hỏi trong mọi trường hợp người bị vu khống phải thực sự bị kết án oan hoặc bị xử phạt thì mới cấu thành tội phạm.
Ví dụ, A tạo tài liệu giả và gửi cho cơ quan có thẩm quyền tố cáo B phạm tội. Cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện tài liệu giả và xác định B không liên quan.
Việc B chưa bị khởi tố hoặc chưa bị kết án không đồng nghĩa A chắc chắn không phải chịu trách nhiệm. Cơ quan chức năng vẫn có thể xem xét hành vi của A dựa trên nội dung tố cáo, nhận thức của A, thủ đoạn tạo dựng chứng cứ và mục đích thực hiện.
Nếu làm giả bằng chứng để vu khống nhưng chưa kịp sử dụng thì sao?
Trường hợp này cần phân biệt hành vi chuẩn bị với hành vi đã thực hiện đầy đủ dấu hiệu của một tội phạm.
Ví dụ, A tạo một tài liệu giả nhưng chưa gửi cho bất kỳ ai, chưa sử dụng tài liệu để tố cáo B. Việc A có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không phải căn cứ vào tội danh được xem xét và giai đoạn thực hiện tội phạm.
Không nên mặc nhiên cho rằng cứ tạo ra một bằng chứng giả là đã hoàn thành Tội vu khống. Cần xác định tài liệu đó đã được sử dụng hoặc loan truyền chưa, nội dung có nhằm xúc phạm hoặc gây thiệt hại cho người khác hay nhằm tố cáo họ phạm tội hay không.
Nếu hành vi đồng thời liên quan đến một tội danh khác có quy định về giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì việc xử lý cũng phải căn cứ vào quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự.
Làm giả bằng chứng để vu khống người khác có phải bồi thường không?
Ngoài trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi còn có thể phải bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại cho người bị vu khống.
Tùy trường hợp, người bị xâm phạm có thể yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân, yêu cầu cải chính, xin lỗi công khai và bồi thường các thiệt hại phát sinh theo quy định của pháp luật dân sự.
Thiệt hại có thể liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và những tổn thất vật chất thực tế nếu có căn cứ chứng minh.
Do đó, việc người thực hiện xóa bài, thu hồi tài liệu hoặc xin lỗi sau khi sự việc bị phát hiện không đồng nghĩa với việc mọi trách nhiệm pháp lý đương nhiên chấm dứt. Những hành động khắc phục hậu quả có thể được xem xét trong quá trình giải quyết vụ việc, nhưng trách nhiệm cụ thể vẫn phụ thuộc vào hành vi và chứng cứ.
Một số ví dụ về làm giả bằng chứng để vu khống
Giả tin nhắn để tố cáo đồng nghiệp chiếm đoạt tiền
A tạo ảnh chụp màn hình tin nhắn giả thể hiện B thừa nhận đã lấy tiền của công ty, sau đó gửi cho giám đốc để yêu cầu sa thải B.
Nếu A biết rõ nội dung là giả và cố tình tạo dựng nhằm gây thiệt hại cho B, hành vi có thể được xem xét về Tội vu khống. Nếu tài liệu giả thuộc trường hợp Điều 341 thì có thể tiếp tục xem xét tội danh này.
Làm giả giấy tờ để tố cáo người khác
A làm giả văn bản có con dấu của doanh nghiệp, trong đó thể hiện B đã ký xác nhận nhận tiền trái phép. A dùng văn bản này để tố cáo B với cơ quan chức năng.
Trường hợp này cần xem xét đồng thời hành vi vu khống và hành vi làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả.
Chỉ nghi ngờ nhưng tố cáo sai
A nghe người khác nói B có thể đã lấy tiền của công ty nên A gửi đơn tố cáo nhưng không tự tạo bằng chứng giả và cũng không biết thông tin mình nhận được là sai.
Trường hợp này không thể chỉ dựa vào việc nội dung tố cáo sau đó được xác định là không đúng để kết luận A phạm Tội vu khống. Cần chứng minh yếu tố biết rõ thông tin sai sự thật và cố ý bịa đặt theo Điều 156.
Người bị vu khống nên làm gì khi phát hiện bằng chứng giả?
Nếu phát hiện có người tạo bằng chứng giả để vu khống, người bị ảnh hưởng nên lưu giữ bản gốc, ảnh chụp màn hình, đường dẫn, tin nhắn, email, tài liệu và thông tin về người tạo hoặc phát tán nội dung.
Đối với tài liệu điện tử, việc giữ nguyên dữ liệu gốc có ý nghĩa quan trọng trong việc xác minh thời điểm tạo, chỉnh sửa và phát tán. Không nên tự ý chỉnh sửa hoặc xóa dữ liệu vì có thể làm mất thông tin phục vụ việc xác minh.
Nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm, người bị hại có thể trình báo hoặc tố giác với cơ quan có thẩm quyền và cung cấp các tài liệu chứng minh. Cơ quan chức năng sẽ đánh giá tính xác thực của bằng chứng, nguồn tạo lập, lịch sử phát tán và ý thức của người thực hiện.
>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!
Kết luận
Làm giả bằng chứng để vu khống người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đặc biệt khi người thực hiện biết rõ thông tin là sai sự thật nhưng vẫn cố tình tạo dựng, sử dụng hoặc loan truyền nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt họ phạm tội. Theo Điều 156 Bộ luật Hình sự, mức phạt có thể từ phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến phạt tù; trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng, mức phạt tù có thể lên đến 07 năm.
Nếu việc làm giả bằng chứng còn liên quan đến con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức, người thực hiện có thể tiếp tục bị xem xét theo Điều 341 Bộ luật Hình sự tùy hành vi cụ thể. Vì vậy, để xác định chính xác một vụ việc thuộc Tội vu khống, Tội làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả, hay có thể liên quan đến tội danh khác, cần xem xét toàn bộ quá trình từ việc tạo bằng chứng, mục đích sử dụng, nội dung tố cáo, phương thức phát tán đến hậu quả thực tế.
