Camera thường là nguồn chứng cứ quan trọng để xác định diễn biến, thời gian, địa điểm và người liên quan đến một vụ việc. Vì vậy, hành vi cố tình xóa dữ liệu camera nhằm giúp người phạm tội tránh bị phát hiện có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp xóa camera đều bị coi là che giấu tội phạm. Cơ quan chức năng sẽ xem xét thời điểm xóa, mục đích, mức độ nhận thức và mối quan hệ giữa người xóa camera với người thực hiện tội phạm.
Xóa camera để giúp người phạm tội có bị xử lý không?
Xóa camera sau khi biết người khác phạm tội có bị đi tù không?
Có thể. Theo Điều 18 Bộ luật Hình sự, người không hứa hẹn trước nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp Bộ luật Hình sự quy định.
Do đó, nếu một người biết rõ vụ án đã xảy ra nhưng cố tình xóa dữ liệu camera để cơ quan chức năng không xác định được người thực hiện thì hành vi này có thể bị xem xét dưới góc độ che giấu tội phạm.
Tuy nhiên, để xử lý hình sự cần xác định tội phạm được che giấu thuộc trường hợp mà Bộ luật Hình sự quy định phải chịu trách nhiệm về hành vi che giấu tội phạm.
Đã hứa trước sẽ xóa camera để giúp phạm tội thì sao?
Trường hợp người xóa camera đã thống nhất hoặc hứa hẹn từ trước với người thực hiện tội phạm rằng sẽ xóa camera, che giấu dấu vết hoặc hỗ trợ để người đó tránh bị phát hiện thì bản chất pháp lý có thể khác.
Điều 17 Bộ luật Hình sự xác định đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Người giúp sức là người tạo điều kiện về tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
Ví dụ, A và B bàn bạc trước để thực hiện hành vi trộm cắp. A trực tiếp lấy tài sản, còn B có nhiệm vụ vô hiệu hóa hoặc xóa camera để A không bị phát hiện. Trong trường hợp này, B có thể bị xem xét với vai trò đồng phạm của tội phạm mà A và B đã cố ý thực hiện, tùy vào chứng cứ và vai trò cụ thể.
Xóa camera nhưng không biết có người phạm tội thì có bị xử lý không?
Không phải cứ xóa dữ liệu camera là đương nhiên phạm tội.
Chẳng hạn, camera tự động ghi đè dữ liệu do hết dung lượng hoặc chủ cửa hàng xóa dữ liệu cũ theo quy trình lưu trữ thông thường mà không biết có vụ án xảy ra thì không thể chỉ dựa vào hành vi xóa dữ liệu để kết luận người đó che giấu tội phạm.
Yếu tố quan trọng là nhận thức và mục đích của người xóa dữ liệu. Nếu người này biết camera có thể chứa chứng cứ về hành vi phạm tội nhưng cố tình xóa nhằm cản trở việc phát hiện, điều tra thì rủi ro pháp lý sẽ cao hơn.
Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Khi đánh giá hành vi xóa camera, cơ quan tố tụng không chỉ xem xét việc dữ liệu có bị xóa hay không mà còn phải làm rõ người xóa có biết về tội phạm, có mục đích che giấu hay không và việc xóa dữ liệu có nhằm cản trở hoạt động phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hay không. Vì vậy, không nên đồng nhất mọi trường hợp mất dữ liệu camera với hành vi che giấu tội phạm.
Xóa camera để che giấu tội phạm có thể bị phạt thế nào?
Trách nhiệm hình sự về hành vi che giấu tội phạm được quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự và chỉ đặt ra đối với những trường hợp mà điều luật này quy định.
Mức hình phạt cụ thể phụ thuộc vào tội phạm được che giấu và các điều kiện cấu thành của Điều 389. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào việc “xóa camera” để xác định ngay người thực hiện sẽ bị phạt bao nhiêu năm tù.
Ngoài ra, nếu người xóa camera đã tham gia hỗ trợ tội phạm từ trước hoặc có sự bàn bạc, thống nhất với người thực hiện tội phạm thì có thể được xem xét theo quy định về đồng phạm, thay vì chỉ xem xét hành vi che giấu sau khi tội phạm đã xảy ra.
Những trường hợp xóa camera có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự
Một số tình huống có nguy cơ bị xử lý gồm:
- Biết người khác vừa thực hiện hành vi phạm tội nhưng cố tình xóa camera để người đó không bị phát hiện.
- Biết camera ghi lại hành vi phạm tội nhưng cố tình phá hỏng hoặc xóa dữ liệu.
- Nhận lời từ trước sẽ xóa camera để giúp người khác thực hiện tội phạm.
- Xóa dữ liệu theo yêu cầu của người phạm tội nhằm loại bỏ chứng cứ.
- Chủ động hướng dẫn hoặc hỗ trợ người phạm tội xóa dấu vết trên hệ thống camera.
- Sau khi biết vụ án xảy ra, tìm cách làm mất hoặc thay đổi dữ liệu nhằm cản trở quá trình điều tra.
Ngược lại, nếu dữ liệu bị mất do lỗi kỹ thuật, hệ thống tự ghi đè hoặc người quản lý xóa dữ liệu trong điều kiện bình thường mà không biết về tội phạm thì cần có thêm căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự.
Ví dụ xóa camera để giúp người phạm tội
A và B có mâu thuẫn với C. A đánh C gây thương tích rồi bỏ đi. B biết rõ sự việc và biết camera tại cửa hàng đã ghi lại toàn bộ diễn biến. Sau đó, B chủ động đăng nhập vào hệ thống và xóa đoạn video để cơ quan chức năng không xác định được A là người gây án.
Trong trường hợp này, B không trực tiếp đánh C nhưng đã có hành vi xóa dấu vết sau khi biết tội phạm được thực hiện. Nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, B có thể bị xem xét trách nhiệm về che giấu tội phạm.
Một trường hợp khác, nếu A và B đã bàn bạc từ trước rằng A sẽ đánh C còn B chịu trách nhiệm xóa camera sau khi vụ việc xảy ra, thì B có thể được xem xét với vai trò đồng phạm trong tội phạm mà hai người đã thống nhất thực hiện.
Người lỡ xóa camera sau khi xảy ra vụ án cần làm gì?
Nếu một người vô tình xóa dữ liệu camera nhưng sau đó biết dữ liệu có thể liên quan đến một vụ án, không nên tiếp tục tìm cách khôi phục, sửa đổi hoặc tiêu hủy các chứng cứ khác.
Người này nên giữ nguyên các thiết bị, dữ liệu còn lại và cung cấp thông tin trung thực cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu. Nếu việc xóa camera có liên quan trực tiếp đến một vụ án hình sự, nên trao đổi với luật sư để đánh giá cụ thể về nhận thức, mục đích và hành vi của mình.
Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy đăng ký tư vấn trực tiếp hoặc online với Luật Thiên Mã để được giải đáp chi tiết, xây dựng phương án xử lý tối ưu với chi phí hợp lý, phải chăng và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Kết luận
Xóa camera để giúp người phạm tội có thể bị xử lý hình sự nếu người thực hiện biết rõ tội phạm đã xảy ra và cố tình xóa dấu vết nhằm che giấu người phạm tội hoặc cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý. Điều 18 Bộ luật Hình sự quy định rõ về hành vi che giấu tội phạm trong những trường hợp luật định.
Nếu người xóa camera đã bàn bạc hoặc hứa hẹn từ trước để hỗ trợ việc phạm tội thì có thể bị xem xét với vai trò đồng phạm, người giúp sức theo Điều 17 Bộ luật Hình sự. Ngược lại, trường hợp dữ liệu bị xóa do lỗi kỹ thuật hoặc người xóa không biết về tội phạm thì không thể chỉ dựa vào việc mất dữ liệu để kết luận có hành vi phạm tội.
