Trong quá trình thực hiện một hành vi phạm tội, có trường hợp người phạm tội tự mình dừng lại dù hoàn toàn có khả năng tiếp tục thực hiện. Pháp luật hình sự không đánh đồng trường hợp này với phạm tội chưa đạt do bị phát hiện, bị ngăn cản hoặc gặp trở ngại khách quan. Đây là chế định “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” được quy định cụ thể tại Điều 16 Bộ luật Hình sự.
Vậy tự ý dừng hành vi phạm tội có được miễn trách nhiệm hình sự hay không? Người phạm tội phải đáp ứng điều kiện nào? Nếu đã thực hiện một phần hành vi thì có còn được miễn? Bài viết dưới đây phân tích quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và những điểm cần đặc biệt lưu ý.
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là gì?
Theo Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015, “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản”.
Đây là một chế định đặc biệt trong pháp luật hình sự, bởi người thực hiện đã bắt đầu quá trình phạm tội nhưng chủ động từ bỏ việc tiếp tục thực hiện, trong khi họ vẫn có khả năng hoàn thành tội phạm.
Theo Điều 16, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Tuy nhiên, nếu những hành vi thực tế đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành một tội phạm khác thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.
Nhận xét của Luật sư Nguyễn Văn Hùng: “Không phải cứ dừng lại giữa chừng là đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Điểm mấu chốt là phải chứng minh người thực hiện thực sự tự nguyện từ bỏ ý định phạm tội trong khi không có trở ngại nào buộc họ phải dừng lại.”
Điều kiện để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Để áp dụng Điều 16 Bộ luật Hình sự, cần xem xét đồng thời nhiều yếu tố.
Người phạm tội tự mình chấm dứt hành vi
Trước hết, việc dừng phạm tội phải xuất phát từ chính ý chí của người thực hiện.
Ví dụ, A mang dao đến nhà B với mục đích giết B. Khi có cơ hội thực hiện, A thay đổi ý định, tự mình bỏ dao xuống và rời đi mặc dù B không phát hiện, không chống cự và không có ai can thiệp.
Trong trường hợp này, việc chấm dứt xuất phát từ quyết định của A chứ không phải do hoàn cảnh bên ngoài.
Việc chấm dứt phải xảy ra khi vẫn có khả năng tiếp tục phạm tội
Đây là điều kiện rất quan trọng.
Nếu người phạm tội dừng lại vì:
- Bị công an phát hiện;
- Bị nạn nhân chống trả;
- Công cụ, phương tiện phạm tội bị hỏng;
- Không thể tiếp cận nạn nhân;
- Có người khác xuất hiện ngăn cản;
- Hoặc gặp một trở ngại khách quan khác,
thì thông thường không được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Bởi trong những trường hợp này, người phạm tội không thực hiện được ý định đến cùng là do nguyên nhân ngoài ý muốn, phù hợp với dấu hiệu của phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự.
Phải từ bỏ việc phạm tội một cách dứt khoát
Việc dừng lại cũng phải mang tính tự nguyện và dứt khoát.
Nếu A đang thực hiện hành vi trộm cắp, sau đó thấy có người đi qua nên tạm thời bỏ đi với ý định tối hôm sau quay lại lấy tài sản thì chưa thể coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Ngược lại, nếu A thực sự từ bỏ ý định trộm cắp và không tiếp tục thực hiện dù vẫn có điều kiện thuận lợi thì có cơ sở xem xét Điều 16.
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có được miễn trách nhiệm hình sự không?
Có, nhưng chỉ trong phạm vi tội định phạm và khi đáp ứng đầy đủ Điều 16.
Khoản quy định về hậu quả pháp lý tại Điều 16 Bộ luật Hình sự nêu rõ: người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc mọi hành vi người đó đã thực hiện đều được miễn.
Nếu hành vi đã thực hiện trước đó đủ yếu tố cấu thành một tội khác thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội khác.
Ví dụ dễ hiểu
A có ý định giết B. A dùng dao đâm B một nhát nhưng sau đó tự nguyện dừng lại, không tiếp tục tấn công mặc dù hoàn toàn có thể thực hiện tiếp.
Nếu hành vi của A mới dừng ở giai đoạn chưa gây ra hậu quả cấu thành tội phạm độc lập khác và đáp ứng đầy đủ điều kiện của Điều 16, A có thể được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người định phạm.
Nhưng nếu hành vi đã gây thương tích cho B ở mức đủ cấu thành Tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự, A vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Phân biệt tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và phạm tội chưa đạt
Đây là hai khái niệm rất dễ bị nhầm lẫn.
| Tiêu chí | Tự ý nửa chừng chấm dứt | Phạm tội chưa đạt |
|---|---|---|
| Quy định | Điều 16 BLHS | Điều 15 BLHS |
| Lý do không hoàn thành | Tự người phạm tội từ bỏ | Do nguyên nhân ngoài ý muốn |
| Khả năng tiếp tục | Vẫn có thể tiếp tục | Không thể hoàn thành do trở ngại |
| Ý chí | Tự nguyện từ bỏ | Vẫn muốn hoàn thành tội phạm |
| Trách nhiệm hình sự | Được miễn về tội định phạm | Phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt |
Theo Điều 15 Bộ luật Hình sự, phạm tội chưa đạt là trường hợp người phạm tội cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn và người phạm tội chưa đạt vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ về phạm tội chưa đạt
A muốn giết B và dùng dao đâm B. Tuy nhiên, trước khi A có thể tiếp tục tấn công, C xuất hiện khống chế A.
A không dừng lại vì tự nguyện từ bỏ ý định mà vì bị người khác ngăn cản.
Trường hợp này không phải tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mà cần xem xét theo quy định về phạm tội chưa đạt.
Luật sư Đặng Quý Tiên lưu ý: “Ranh giới giữa hai chế định nằm chủ yếu ở nguyên nhân khiến hành vi phạm tội dừng lại. Nếu người phạm tội tự nguyện từ bỏ trong khi vẫn có khả năng tiếp tục thì có thể áp dụng Điều 16; nếu bị hoàn cảnh khách quan ngăn cản thì không nên nhầm lẫn với tự ý nửa chừng chấm dứt.”
Đã thực hiện một phần hành vi thì có được miễn trách nhiệm hình sự không?
Có thể, nhưng phải xem xét cụ thể.
Điều 16 không yêu cầu người phạm tội phải dừng ngay từ khi mới có ý định. Người đó có thể đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội nhưng sau đó tự nguyện chấm dứt.
Tuy nhiên, cần xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa và hành vi thực tế đã thực hiện có cấu thành một tội khác hay không.
Nếu tội phạm đã hoàn thành thì về nguyên tắc không còn đặt vấn đề “tự ý nửa chừng chấm dứt” đối với chính tội đó.
Ví dụ, A cố ý đánh B gây thương tích đã đạt tỷ lệ đủ cấu thành tội phạm. Sau đó A dừng lại không đánh tiếp. Việc A dừng hành vi không làm mất đi trách nhiệm hình sự đối với thương tích đã gây ra.
Do đó, dừng hành vi sau khi tội phạm đã hoàn thành không đồng nghĩa được miễn trách nhiệm hình sự.
Đồng phạm tự ý chấm dứt việc phạm tội có được miễn không?
Đối với vụ án có nhiều người tham gia, việc xác định trách nhiệm phức tạp hơn.
Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức muốn được xem xét theo chế định tự ý nửa chừng chấm dứt phải thực sự từ bỏ vai trò của mình và có hành động phù hợp để ngăn chặn tội phạm, tùy vị trí của họ trong vụ án.
Chẳng hạn, người giúp sức đã cung cấp phương tiện cho đồng phạm nhưng sau đó chỉ nói “tôi không tham gia nữa” trong khi đồng phạm vẫn sử dụng phương tiện đó để phạm tội thì chưa chắc đã đủ căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự.
Đối với người tổ chức hoặc xúi giục, việc tự mình từ bỏ ý định nhưng không có hành động ngăn chặn người thực hành tiếp tục phạm tội cũng cần được đánh giá rất chặt chẽ.
Tự ý nửa chừng chấm dứt có được miễn mọi trách nhiệm không?
Không.
Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý.
Điều 16 chỉ quy định miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Nếu hành vi đã thực hiện cấu thành tội khác thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm.
Ví dụ:
A muốn đốt nhà B để trả thù. A đã đổ xăng và châm lửa nhưng sau đó tự mình dập lửa, không tiếp tục thực hiện. Nếu hành vi trước đó chưa cấu thành tội phạm khác và đáp ứng Điều 16, A có thể được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm.
Nhưng nếu quá trình thực hiện đã gây thiệt hại về tài sản hoặc gây thương tích cho người khác đủ yếu tố cấu thành một tội độc lập thì A vẫn có thể phải chịu trách nhiệm về hành vi đó.
Cần chứng minh việc chấm dứt là tự nguyện như thế nào?
Trong thực tế, việc xác định một người tự nguyện từ bỏ hay bị hoàn cảnh buộc phải dừng thường phụ thuộc vào chứng cứ của vụ án.
Cơ quan tiến hành tố tụng có thể phải xem xét:
- Lời khai của người thực hiện;
- Lời khai của bị hại và người làm chứng;
- Camera;
- Tin nhắn, cuộc gọi;
- Công cụ, phương tiện đã chuẩn bị;
- Diễn biến trước, trong và sau khi hành vi dừng lại;
- Khả năng tiếp tục thực hiện hành vi tại thời điểm chấm dứt;
- Hành động của người phạm tội sau khi dừng.
Vì vậy, chỉ nói rằng “tôi đã hối hận nên dừng lại” chưa chắc đã đủ để được áp dụng Điều 16. Cần đánh giá toàn bộ diễn biến thực tế để xác định có đúng là tự ý nửa chừng chấm dứt hay không.
Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy đăng ký tư vấn trực tiếp hoặc online với Luật Thiên Mã để được giải đáp chi tiết, xây dựng phương án xử lý tối ưu với chi phí hợp lý, phải chăng và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Kết luận
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm theo Điều 16 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, người thực hiện phải thực sự tự nguyện, dứt khoát từ bỏ việc phạm tội trong khi vẫn không có trở ngại ngăn cản; nếu dừng lại do bị phát hiện, bị bắt hoặc bị người khác ngăn chặn thì có thể thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
