Trong hoạt động tố tụng hình sự, việc xác định đúng người, đúng tội là yêu cầu đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Tuy nhiên, nếu người có thẩm quyền biết rõ một người không có tội nhưng vẫn cố tình truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi này không chỉ gây oan sai mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến sự đúng đắn của hoạt động tư pháp.
Điều 368 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định riêng về tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, với mức phạt cao nhất lên đến 15 năm tù. Vậy dấu hiệu nào để xác định tội danh này, ai có thể là chủ thể và khi nào người phạm tội phải chịu khung hình phạt cao nhất?
Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là gì?
Theo khoản 1 Điều 368 Bộ luật Hình sự, “người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội” thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Đây là một trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại Chương XXIV Bộ luật Hình sự.
Có thể hiểu đơn giản, hành vi phạm tội xảy ra khi một người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, nhận thức rõ người bị truy cứu không thực hiện tội phạm nhưng vẫn cố tình sử dụng thẩm quyền tố tụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó.
Không phải mọi trường hợp truy cứu oan đều cấu thành tội phạm
Một điểm cần đặc biệt lưu ý là Điều 368 sử dụng cụm từ “biết rõ là không có tội”.
Do đó, không phải cứ có quyết định khởi tố, truy tố sau đó được xác định là oan thì người có thẩm quyền đương nhiên phạm tội theo Điều 368. Cần chứng minh người thực hiện biết rõ người bị truy cứu không có tội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi.
Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt tội này với những trường hợp sai sót nghiệp vụ, đánh giá chứng cứ không chính xác nhưng không có căn cứ chứng minh người thực hiện cố ý truy cứu người mà mình biết rõ là vô tội.
Dấu hiệu pháp lý của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội
Để xác định trách nhiệm hình sự, cần xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Chủ thể của tội phạm là người có thẩm quyền
Đây là chủ thể đặc biệt. Người thực hiện phải là người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự và có khả năng thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người khác.
Theo phân tích của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chủ thể của tội này có thể là người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc người được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng hình sự, chẳng hạn người có thẩm quyền liên quan đến việc khởi tố bị can, đề nghị truy tố hoặc quyết định truy tố.
Như vậy, một cá nhân bình thường không có thẩm quyền tố tụng không thể trở thành chủ thể của tội danh này chỉ vì cung cấp thông tin sai sự thật hoặc vu khống người khác.
Hành vi khách quan là cố ý truy cứu người không có tội
Hành vi được quy định tại Điều 368 là truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội.
Trong thực tế, hành vi có thể thể hiện thông qua việc người có thẩm quyền vẫn thực hiện các quyết định tố tụng để truy cứu một người mặc dù đã biết rõ không có căn cứ xác định người đó thực hiện tội phạm.
Theo phân tích của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hành vi này không bao gồm việc ra bản án kết tội người không có tội, bởi việc ra bản án trái pháp luật được quy định tại Điều 370 Bộ luật Hình sự.
Lỗi cố ý trực tiếp và dấu hiệu “biết rõ”
Đây là dấu hiệu đặc biệt quan trọng của tội danh.
Người phạm tội phải nhận thức được rằng người bị truy cứu không có tội, nhưng vẫn mong muốn thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, nếu một người có thẩm quyền thực hiện quyết định tố tụng do nhận định sai chứng cứ, thiếu kinh nghiệm hoặc có sai sót nghiệp vụ nhưng không biết rõ người đó vô tội, thì không thể chỉ dựa vào kết quả oan sai để kết luận ngay người này phạm tội theo Điều 368.
Việc chứng minh yếu tố “biết rõ” phải dựa trên các tài liệu, chứng cứ và diễn biến cụ thể của vụ án.
Các trường hợp bị phạt từ 5 năm đến 10 năm tù
Theo khoản 2 Điều 368 Bộ luật Hình sự, người phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từ 02 người đến 05 người;
- Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
- Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Đây đều là những tình tiết cho thấy hậu quả hoặc mức độ nguy hiểm của hành vi đã vượt đáng kể so với trường hợp phạm tội thông thường.
Khi nào hành vi dẫn đến kết án oan?
Trường hợp người có thẩm quyền truy cứu một người mà mình biết rõ là không có tội, sau đó vụ việc dẫn đến việc người này bị Tòa án kết án oan, trách nhiệm hình sự có thể được xác định theo khung tăng nặng.
Nếu người bị kết án oan về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, hành vi thuộc khoản 2 Điều 368, với mức phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
Nếu việc kết án oan liên quan đến tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, mức hình phạt sẽ chuyển sang khung cao hơn.
Khi nào tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội bị phạt đến 15 năm tù?
Theo khoản 3 Điều 368 Bộ luật Hình sự, người phạm tội bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:
- Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với 06 người trở lên;
- Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- Làm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan tự sát.
Đây là khung hình phạt nghiêm khắc nhất của tội danh này. Mức phạt cao nhất là 15 năm tù, chưa kể hình phạt bổ sung mà người phạm tội phải chịu.
Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ
Ngoài hình phạt tù, khoản 4 Điều 368 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Quy định này có ý nghĩa đặc biệt đối với nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, bởi người thực hiện hành vi đã lợi dụng hoặc sử dụng sai thẩm quyền tố tụng để gây oan cho người không có tội.
Việc cấm đảm nhiệm chức vụ nhằm hạn chế khả năng người đã phạm tội tiếp tục giữ những vị trí có thể tác động đến hoạt động tư pháp trong một khoảng thời gian nhất định.
Phân biệt truy cứu người không có tội với không truy cứu người có tội
Hai hành vi này có tính chất gần như đối lập nhưng đều được quy định thành tội phạm độc lập trong Bộ luật Hình sự.
Điều 368 xử lý người có thẩm quyền biết rõ người không có tội nhưng vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong khi đó, Điều 369 Bộ luật Hình sự xử lý người có thẩm quyền biết rõ một người có tội nhưng lại không truy cứu trách nhiệm hình sự. Khung hình phạt cơ bản của Điều 369 là phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Điểm chung của hai tội danh là đều xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng. Điểm khác biệt nằm ở đối tượng bị tác động: một bên là người không có tội nhưng bị truy cứu, còn một bên là người có tội nhưng không bị truy cứu.
Ví dụ về tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội
Giả sử một người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng biết rõ A không thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời có tài liệu chứng minh A không liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, vì một mục đích cá nhân, người này vẫn cố tình thực hiện các thủ tục tố tụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A.
Nếu có đủ căn cứ chứng minh người có thẩm quyền nhận thức rõ A không có tội nhưng vẫn cố ý truy cứu, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 368 Bộ luật Hình sự.
Nếu hành vi tiếp tục dẫn đến việc A bị kết án oan về một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, người thực hiện có thể phải chịu khung hình phạt từ 10 năm đến 15 năm tù.
Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Để xác định một trường hợp có thực sự cấu thành tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hay không, không thể chỉ căn cứ vào việc một người sau đó được đình chỉ điều tra hoặc được tuyên không phạm tội. Cần làm rõ người có thẩm quyền có biết rõ người đó không có tội và vẫn cố ý truy cứu hay không, đồng thời xác định hậu quả và các tình tiết liên quan.
Kết luận
Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội được quy định tại Điều 368 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhằm bảo vệ sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội. Dấu hiệu quan trọng nhất của tội này là người thực hiện phải có thẩm quyền và biết rõ người bị truy cứu không có tội nhưng vẫn cố ý truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tùy tính chất, số lượng người bị truy cứu và hậu quả xảy ra, người phạm tội có thể bị phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, 05 năm đến 10 năm tù hoặc 10 năm đến 15 năm tù; đồng thời còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy đăng ký tư vấn trực tiếp hoặc online với Luật Thiên Mã để được giải đáp chi tiết, xây dựng phương án xử lý tối ưu với chi phí hợp lý, phải chăng và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
