Tội bức cung: Phân tích sự khác biệt với hành vi dùng nhục hình

Trong hoạt động tố tụng hình sự, việc lấy lời khai, hỏi cung phải được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và tôn trọng quyền của người bị buộc tội. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có trường hợp người có thẩm quyền dùng sức ép, đe dọa, đối xử tàn bạo hoặc thủ đoạn trái pháp luật để buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai báo theo ý muốn của mình. Những hành vi này không chỉ xâm phạm quyền con người mà còn có thể làm sai lệch kết quả giải quyết vụ án.

Pháp luật hình sự hiện hành quy định tội bức cung tại Điều 374 Bộ luật Hình sự và tội dùng nhục hình tại Điều 373 Bộ luật Hình sự. Hai tội danh có điểm giao thoa nhưng không đồng nhất, đặc biệt về mục đích của hành vi. Việc phân biệt chính xác có ý nghĩa quan trọng trong xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi.

Tội bức cung là gì? Quy định tại Điều 374 Bộ luật Hình sự

Theo khoản 1 Điều 374 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bức cung. Khung hình phạt cơ bản là phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Điểm đặc biệt của tội bức cung nằm ở mục đích của hành vi. Người phạm tội không đơn thuần có hành vi trái pháp luật đối với người bị lấy lời khai hoặc hỏi cung mà phải nhằm ép buộc họ khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc.

Những yếu tố cơ bản cấu thành tội bức cung

Có thể nhận diện tội bức cung thông qua các dấu hiệu chính sau:

  • Hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng;
  • Người thực hiện sử dụng thủ đoạn trái pháp luật;
  • Đối tượng bị tác động là người bị lấy lời khai hoặc người bị hỏi cung;
  • Mục đích là ép buộc người này phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc.

Thủ đoạn trái pháp luật có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức. Đáng chú ý, điểm d khoản 2 Điều 374 Bộ luật Hình sự quy định trường hợp “dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, hỏi cung” là tình tiết định khung tăng nặng, với mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Điều này cho thấy bức cung và dùng nhục hình có thể xuất hiện trong cùng một vụ việc, nhưng về mặt pháp lý chúng vẫn là những hành vi được quy định tại hai tội danh khác nhau.

Lưu ý từ Luật sư Đặng Quý Tiên: Không phải mọi hành vi đánh đập người bị tạm giữ, bị can đều mặc nhiên cấu thành tội bức cung. Cần xác định người thực hiện hành vi có sử dụng thủ đoạn trái pháp luật để ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung khai báo hay không, đồng thời xem xét đầy đủ mục đích, hậu quả và các tình tiết của vụ án.

Tội dùng nhục hình là gì? Khác bức cung ở điểm nào?

Theo Điều 373 Bộ luật Hình sự, người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người khác, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội dùng nhục hình.

So với bức cung, phạm vi hành vi của tội dùng nhục hình tập trung vào cách thức đối xử với người bị tác động, chẳng hạn đánh đập, gây đau đớn về thể chất hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm.

Trong khi đó, tội bức cung nhấn mạnh đến việc sử dụng thủ đoạn trái pháp luật để ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai báo thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc.

Dùng nhục hình không nhất thiết phải nhằm mục đích lấy lời khai

Đây là điểm quan trọng để phân biệt hai tội danh.

Nếu người có thẩm quyền đánh đập, đối xử tàn bạo hoặc hạ nhục một người trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng hành vi đó không nhằm ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai báo, thì cần xem xét dấu hiệu của tội dùng nhục hình theo Điều 373 Bộ luật Hình sự thay vì mặc nhiên xác định là bức cung.

Ngược lại, nếu hành vi đánh đập, đối xử tàn bạo được thực hiện nhằm buộc người bị hỏi cung phải khai báo thì hành vi dùng nhục hình có thể trở thành thủ đoạn thực hiện tội bức cung và được xem xét theo Điều 374.

Phân biệt tội bức cung và dùng nhục hình qua 5 tiêu chí

Để tránh nhầm lẫn, có thể đặt hai tội danh cạnh nhau dựa trên các tiêu chí cơ bản.

Tiêu chí Tội bức cung Tội dùng nhục hình
Căn cứ pháp lý Điều 374 BLHS Điều 373 BLHS
Hành vi Sử dụng thủ đoạn trái pháp luật để ép buộc khai báo Dùng nhục hình, đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm
Mục đích Ép người bị lấy lời khai, hỏi cung khai thông tin liên quan vụ án, vụ việc Không nhất thiết phải nhằm buộc khai báo
Đối tượng Người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung Người bị tác động trong các hoạt động thuộc phạm vi Điều 373
Khung cơ bản Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Như vậy, mục đích ép khai báo là dấu hiệu đặc biệt quan trọng để nhận diện tội bức cung. Còn với tội dùng nhục hình, trọng tâm là hành vi dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm trong phạm vi hoạt động mà Điều 373 quy định.

Khi nào hành vi dùng nhục hình có thể cấu thành bức cung?

Không phải cứ có hành vi dùng nhục hình là sẽ phát sinh đồng thời hai tội danh.

Ví dụ, Điều tra viên trong quá trình hỏi cung bị can đã đánh đập người này và yêu cầu phải nhận mình thực hiện hành vi phạm tội. Trong tình huống này, việc đánh đập chính là thủ đoạn trái pháp luật nhằm ép buộc người bị hỏi cung khai báo, nên cần xem xét dấu hiệu của tội bức cung.

Đáng chú ý, điểm d khoản 2 Điều 374 Bộ luật Hình sự đã quy định chính việc “dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm” người bị lấy lời khai, hỏi cung là tình tiết định khung của tội bức cung.

Do đó, không nên hiểu rằng cứ dùng nhục hình là phải xử lý về Điều 373. Cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào mục đích, hoàn cảnh, đối tượng tác động và toàn bộ diễn biến hành vi để xác định tội danh phù hợp.

Mức phạt đối với tội bức cung và dùng nhục hình

Hình phạt đối với tội bức cung

Theo Điều 374 Bộ luật Hình sự, tội bức cung được quy định với nhiều khung hình phạt tùy tính chất, mức độ và hậu quả.

  • Khoản 1: Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  • Khoản 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc các trường hợp như phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng; dùng nhục hình, đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm; làm sai lệch kết quả tố tụng hoặc ép buộc khai sai sự thật.
  • Khoản 3: Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm nếu làm người bị bức cung tự sát hoặc dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
  • Khoản 4: Nếu làm người bị bức cung chết thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
  • Khoản 5: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hình phạt đối với tội dùng nhục hình

Theo Điều 373 Bộ luật Hình sự, người phạm tội dùng nhục hình có thể chịu các mức hình phạt:

  • Khoản 1: Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
  • Khoản 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc các trường hợp tăng nặng như phạm tội nhiều lần, đối với nhiều người, người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, người khuyết tật hoặc gây thương tích từ 11% đến 60%;
  • Khoản 3: Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm nếu gây thương tích từ 61% trở lên hoặc làm người bị nhục hình tự sát;
  • Khoản 4: Nếu làm người bị nhục hình chết thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân;
  • Khoản 5: Có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Ví dụ thực tế để phân biệt bức cung và dùng nhục hình

Giả sử trong quá trình hỏi cung, một người có thẩm quyền dùng vũ lực đánh bị can và yêu cầu bị can phải nhận mình thực hiện hành vi trộm cắp.

Trong trường hợp này, hành vi đánh đập không chỉ xâm phạm thân thể của bị can mà còn được sử dụng với mục đích ép buộc khai báo. Vì vậy, cần xem xét dấu hiệu của tội bức cung theo Điều 374, trong đó việc dùng nhục hình có thể là tình tiết định khung.

Ngược lại, nếu người có thẩm quyền đánh đập hoặc đối xử tàn bạo với người đang thuộc phạm vi quản lý trong hoạt động tố tụng nhưng không nhằm ép người đó khai báo thông tin liên quan đến vụ án, thì cần xem xét hành vi dưới góc độ tội dùng nhục hình theo Điều 373.

Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Ranh giới giữa hai tội danh đôi khi rất khó xác định nếu chỉ dựa vào hành vi bề ngoài. Việc đánh đập có thể là “nhục hình”, nhưng nếu được sử dụng như một phương thức ép cung thì hành vi đó lại có thể trở thành tình tiết định khung của tội bức cung. Vì vậy, cần đánh giá toàn bộ diễn biến và mục đích của người thực hiện.

Bức cung, dùng nhục hình có làm lời khai trở thành chứng cứ hợp pháp không?

Không.

Bộ luật Tố tụng hình sự nghiêm cấm bức cung, dùng nhục hình và các hình thức tra tấn hoặc đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người. Quy định này được thể hiện tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Nếu có căn cứ cho rằng lời khai được thu thập bằng bức cung, nhục hình hoặc các phương pháp trái pháp luật, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét tính hợp pháp của nguồn chứng cứ và quá trình thu thập chứng cứ.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi lời khai bị ép buộc có thể dẫn đến khai sai sự thật, nhận tội oan hoặc làm sai lệch quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Chính Điều 374 cũng quy định việc bức cung dẫn đến làm sai lệch kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc ép người bị lấy lời khai, hỏi cung khai sai sự thật là những tình tiết làm tăng trách nhiệm hình sự.

Kết luận

Tội bức cung và tội dùng nhục hình đều là những hành vi bị pháp luật hình sự nghiêm cấm, được quy định lần lượt tại Điều 374 và Điều 373 Bộ luật Hình sự. Điểm khác biệt quan trọng là bức cung tập trung vào việc sử dụng thủ đoạn trái pháp luật để ép người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai báo, trong khi dùng nhục hình tập trung vào hành vi dùng nhục hình, đối xử tàn bạo hoặc hạ nhục nhân phẩm trong phạm vi luật định.

Đặc biệt, dùng nhục hình có thể trở thành thủ đoạn thực hiện tội bức cung nếu nhằm ép buộc người bị hỏi cung, lấy lời khai khai báo thông tin liên quan đến vụ án. Vì vậy, khi xác định trách nhiệm hình sự cần xem xét mục đích, hành vi, hậu quả và hoàn cảnh cụ thể thay vì chỉ căn cứ vào việc có xảy ra đánh đập hay không.

Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy đăng ký tư vấn trực tiếp hoặc online với Luật Thiên Mã để được giải đáp chi tiết, xây dựng phương án xử lý tối ưu với chi phí hợp lý, phải chăng và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Đặt lịch tư vấn

Chat Zalo
Đặt Lịch

    PHIẾU ĐẶT LỊCH

    Vui lòng điền thông tin liên hệ và lựa chọn Hình thức tư vấn phù hợp với yêu cầu của bạn.






    Bạn vui lòng quét mã để thanh toán phí tư vấn và nhấn Đặt lịch tư vấn. Lưu ý: Lịch tư vấn chỉ được xác nhận khi thanh toán thành công. Trong vòng 05 phút, chúng tôi sẽ liên hệ để xác nhận và kết nối bạn với đội ngũ luật sư.


    Luật sư tư vấn trực tiếp

    Luật sư tư vấn Online

    Bạn cần thanh toán trước khi gửi phiếu đặt lịch