Trong thực tế xét xử, người bị Tòa án tuyên phạt tù không phải lúc nào cũng phải chấp hành hình phạt tại trại giam. Nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định, người phạm tội có thể được hưởng án treo và cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục. Tuy nhiên, án treo không đồng nghĩa với việc được miễn trách nhiệm hình sự hay được “xóa án”.
Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người bị xử phạt tù không quá 03 năm có thể được Tòa án cho hưởng án treo nếu xét thấy không cần bắt người đó phải chấp hành hình phạt tù. Vậy án treo là gì, điều kiện hưởng án treo gồm những gì và thời gian thử thách được tính như thế nào? Nội dung dưới đây sẽ phân tích cụ thể các quy định quan trọng.
Nội Dung Bài Viết
ToggleÁn treo là gì? Có phải được miễn chấp hành hình phạt tù?
Theo Điều 1 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.
Như vậy, người được hưởng án treo vẫn bị Tòa án kết án và vẫn có hình phạt tù trong bản án. Điểm khác là người đó được miễn chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ và được cải tạo ngoài xã hội trong thời gian thử thách.
Ví dụ về trường hợp được hưởng án treo
A bị Tòa án tuyên 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm.
Trong trường hợp này, A không phải vào trại giam để chấp hành 01 năm tù nếu tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Tuy nhiên, A vẫn là người bị kết án và phải chịu sự giám sát, giáo dục theo quy định.
Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Án treo không phải là “trắng án”. Người hưởng án treo vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định hoặc phạm tội mới, người này có thể phải chịu những hậu quả pháp lý nghiêm khắc hơn.
Điều kiện hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự
Không phải cứ bị phạt tù dưới 03 năm là chắc chắn được hưởng án treo. Tòa án phải xem xét tổng thể các điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP.
Bị phạt tù không quá 03 năm
Theo khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự, người bị xử phạt tù không quá 03 năm mới thuộc trường hợp có thể được Tòa án xem xét cho hưởng án treo.
Chẳng hạn, người bị phạt 06 tháng, 01 năm, 02 năm hoặc 03 năm tù đều có thể được xem xét. Tuy nhiên, mức hình phạt chỉ là điều kiện đầu tiên, không có nghĩa người bị phạt tù dưới 03 năm đương nhiên được hưởng án treo.
Có nhân thân phù hợp
Tòa án phải đánh giá nhân thân của người phạm tội để xác định người đó có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội hay không.
Việc đánh giá nhân thân có thể dựa trên quá trình chấp hành pháp luật, tiền án, tiền sự, vai trò trong vụ án và các yếu tố khác theo quy định. Người có nhân thân tốt, phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng và có khả năng tự cải tạo sẽ có cơ sở thuận lợi hơn khi được xem xét.
Có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự là một trong những căn cứ quan trọng khi Tòa án đánh giá điều kiện hưởng án treo.
Một số tình tiết thường gặp gồm:
- Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
- Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
- Tự nguyện ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
- Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện hoặc giải quyết tội phạm.
Việc có tình tiết giảm nhẹ không đồng nghĩa chắc chắn được hưởng án treo nhưng có thể là căn cứ quan trọng để Tòa án đánh giá toàn diện vụ án.
Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định
Người được hưởng án treo phải có điều kiện để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Do đó, nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định là một trong những yếu tố cần được xem xét. Đây cũng là cơ sở để bảo đảm người hưởng án treo có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình cải tạo tại cộng đồng.
Tòa án xét thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù
Đây là điều kiện thể hiện rõ nhất bản chất của án treo.
Ngay cả khi người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án vẫn phải đánh giá liệu việc cho người đó cải tạo ngoài xã hội có bảo đảm yêu cầu phòng ngừa và giáo dục hay không.
Nếu xét thấy cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội, Tòa án có thể không cho hưởng án treo.
Những trường hợp không được hưởng án treo
Bên cạnh các điều kiện được hưởng, Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, quy định những trường hợp không cho hưởng án treo.
Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy
Người giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy trong vụ án thuộc nhóm trường hợp cần đặc biệt lưu ý khi xem xét án treo.
Vai trò của bị cáo trong vụ án có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Người bỏ trốn và bị truy nã
Người phạm tội bỏ trốn và đã bị truy nã thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo quy định.
Việc bỏ trốn, trốn tránh cơ quan tiến hành tố tụng có thể cho thấy người phạm tội không đáp ứng yêu cầu về khả năng tự giác chấp hành pháp luật và cải tạo ngoài xã hội.
Người tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Người thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm cũng thuộc nhóm cần loại trừ khi xem xét án treo theo quy định hướng dẫn.
Vì vậy, khi đánh giá khả năng hưởng án treo, không thể chỉ nhìn vào mức hình phạt của vụ án hiện tại mà cần xem xét cả quá trình chấp hành pháp luật và tình trạng án tích của người phạm tội.
Thời gian thử thách án treo là bao lâu?
Theo khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự, khi cho hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách.
Theo Điều 4 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, thời gian thử thách của người hưởng án treo về nguyên tắc được xác định bằng 02 lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không quá 05 năm.
Có thể hình dung:
| Mức phạt tù | Thời gian thử thách |
|---|---|
| 06 tháng | 12 tháng |
| 09 tháng | 18 tháng |
| 01 năm | 02 năm |
| 18 tháng | 03 năm |
| 02 năm | 04 năm |
| 30 tháng | 05 năm |
| 03 năm | 05 năm |
Ví dụ, nếu bị tuyên 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách thông thường là 36 tháng.
Nếu bị tuyên 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo nguyên tắc là 06 năm nhưng do pháp luật giới hạn tối đa 05 năm nên thời gian thử thách là 05 năm.
Lưu ý từ Luật sư Đặng Quý Tiên: Khi xác định thời gian thử thách cụ thể, cần căn cứ vào phần quyết định của bản án. Không nên chỉ dựa vào mức hình phạt để tự xác định ngày kết thúc thời gian thử thách, nhất là trường hợp vụ án có kháng cáo hoặc kháng nghị.
Người hưởng án treo phải thực hiện nghĩa vụ gì?
Được hưởng án treo không có nghĩa người bị kết án được tự do hoàn toàn. Trong thời gian thử thách, người này phải chịu sự giám sát, giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 2019.
Phải chấp hành sự giám sát, giáo dục
Người hưởng án treo được giao cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tại địa phương thực hiện việc giám sát, giáo dục.
Người hưởng án treo phải chấp hành các nghĩa vụ theo quy định, thực hiện yêu cầu của cơ quan giám sát và không được tùy tiện vi phạm pháp luật trong thời gian thử thách.
Vi phạm nghĩa vụ có thể phải chấp hành hình phạt tù
Theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo Luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Đây là lý do người hưởng án treo cần đặc biệt nghiêm túc trong suốt thời gian thử thách.
Phạm tội mới trong thời gian thử thách
Nếu người hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách, Tòa án sẽ quyết định hình phạt đối với tội mới và tổng hợp với hình phạt của bản án trước theo Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Do đó, phạm tội mới trong thời gian thử thách có thể khiến người đang hưởng án treo phải đối mặt với hình phạt nghiêm khắc hơn.
Có được rút ngắn thời gian thử thách án treo không?
Pháp luật cho phép người hưởng án treo được xem xét rút ngắn thời gian thử thách nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Việc rút ngắn không tự động được áp dụng mà phải căn cứ vào quá trình cải tạo, việc chấp hành pháp luật và các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Cơ quan có thẩm quyền sẽ lập hồ sơ, đề nghị và Tòa án xem xét, quyết định theo quy định.
Vì vậy, người hưởng án treo nên chủ động chấp hành tốt các nghĩa vụ ngay từ đầu để bảo đảm quyền lợi của mình trong suốt thời gian thử thách.
Án treo có được xóa án tích không?
Hết thời gian thử thách không đồng nghĩa với việc đương nhiên được xóa án tích ngay lập tức.
Việc xóa án tích được quy định tại Chương XI Bộ luật Hình sự, trong đó Điều 70 Bộ luật Hình sự quy định về trường hợp đương nhiên được xóa án tích.
Để xác định chính xác thời điểm được xóa án tích, cần xem xét loại tội phạm, hình phạt đã tuyên, việc chấp hành bản án và các điều kiện khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Kết luận
Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Người bị phạt tù không quá 03 năm chỉ được xem xét hưởng án treo khi đáp ứng các điều kiện về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và khả năng tự cải tạo theo quy định pháp luật.
Thời gian thử thách án treo thường bằng 02 lần mức phạt tù, tối thiểu 01 năm và tối đa 05 năm. Trong thời gian này, người hưởng án treo phải chấp hành nghiêm các nghĩa vụ; nếu vi phạm hoặc phạm tội mới, có thể phải chấp hành hình phạt tù theo quy định.
Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy đăng ký tư vấn trực tiếp hoặc online với Luật Thiên Mã để được giải đáp chi tiết, xây dựng phương án xử lý tối ưu với chi phí hợp lý, phải chăng và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
