Thành lập doanh nghiệp để xuất hóa đơn khống bị xử lý thế nào?

Một số cá nhân thành lập doanh nghiệp không nhằm mục đích kinh doanh thực tế mà chỉ để phát hành hóa đơn cho những giao dịch không có thật, sau đó bán hóa đơn cho doanh nghiệp khác sử dụng hoặc dùng hóa đơn để hợp thức hóa chi phí. Hành vi này có thể gây thất thu ngân sách, làm sai lệch số liệu kế toán và tạo điều kiện cho các hành vi gian lận thuế, chiếm đoạt tài sản.

Vậy thành lập doanh nghiệp chỉ để xuất hóa đơn khống có thể bị xử lý về những tội danh nào? Người đứng tên thành lập công ty, giám đốc, kế toán và người mua hóa đơn có cùng chịu trách nhiệm hay không? Bài viết dưới đây phân tích các tội danh có thể được xem xét theo Bộ luật Hình sự, đồng thời làm rõ những điều kiện cần có để xác định trách nhiệm của từng cá nhân và doanh nghiệp.

Thành lập doanh nghiệp chỉ để xuất hóa đơn khống có vi phạm pháp luật không?

Có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự tùy theo hành vi cụ thể. Việc thành lập doanh nghiệp đúng thủ tục không tự nó là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp được lập ra nhằm phát hành, mua bán hóa đơn không phản ánh giao dịch thực tế thì những người liên quan có thể bị xem xét trách nhiệm pháp lý.

Cần phân biệt hai trường hợp:

  • Doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh thật: Hóa đơn được lập để phản ánh việc bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thực tế, dù doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoặc mới thành lập.
  • Doanh nghiệp được sử dụng để xuất hóa đơn khống: Hóa đơn thể hiện việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhưng giao dịch không có thật hoặc nội dung hóa đơn không phản ánh đúng bản chất giao dịch, nhằm thu lợi hoặc giúp bên khác hợp thức hóa hồ sơ.

Nếu có dấu hiệu phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét mục đích thành lập doanh nghiệp, số lượng hóa đơn, dòng tiền, chứng từ giao nhận hàng hóa, dịch vụ và vai trò của từng người. Không thể chỉ căn cứ vào việc công ty không có văn phòng hoặc ít nhân viên để kết luận có hành vi phạm tội.

Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn theo Điều 203 Bộ luật Hình sự

Đây là tội danh trọng tâm cần xem xét khi doanh nghiệp được lập ra để xuất và bán hóa đơn khống.

Điều 203 Bộ luật Hình sự quy định về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Hành vi mua bán hóa đơn đã ghi nội dung nhưng không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo có thể thuộc phạm vi xử lý của điều luật này khi đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm. (Cổng thông tin Bộ Tư pháp)

Hành vi nào có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Một số hành vi có thể bị xem xét gồm:

  • Thành lập doanh nghiệp để phát hành hóa đơn cho những giao dịch không có thật;
  • Lập và bán hóa đơn cho doanh nghiệp khác dù không có hoạt động giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tương ứng;
  • Mua hóa đơn khống để bán lại, thu phí hoặc hưởng lợi;
  • Tổ chức nhiều người cùng thực hiện việc lập, phát hành, mua bán hóa đơn trái phép.

Không phải mọi hóa đơn có sai sót đều cấu thành tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định hành vi cụ thể, số lượng hóa đơn, khoản thu lợi bất chính, thiệt hại ngân sách và các điều kiện khác theo Điều 203.

Mức hình phạt đối với cá nhân

Theo Điều 203 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung, người phạm tội có thể bị xử lý theo các khung hình phạt tùy số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính và tình tiết của vụ án. Khung cơ bản quy định phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng, chẳng hạn phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp hoặc đạt ngưỡng về số lượng hóa đơn, thu lợi bất chính, thiệt hại ngân sách, hình phạt có thể nặng hơn. (Văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự)

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định.

Doanh nghiệp có bị xử lý hình sự không?

Có. Pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội quy định tại Điều 203 nếu đáp ứng các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự.

Tùy khung phạm tội, doanh nghiệp có thể bị phạt tiền, cấm kinh doanh hoặc hoạt động trong một số lĩnh vực, cấm huy động vốn; trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị đình chỉ hoạt động theo quy định.

Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân tham gia thực hiện hành vi. Người tổ chức, điều hành hoặc trực tiếp thực hiện việc mua bán hóa đơn có thể bị xử lý riêng nếu đủ căn cứ.

Tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự

Ngoài hành vi mua bán hóa đơn trái phép, vụ việc có thể phát sinh tội trốn thuế nếu hóa đơn khống được sử dụng nhằm làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được miễn, giảm, khấu trừ hay hoàn.

Theo Điều 200 Bộ luật Hình sự, hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán đầu vào, làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, được khấu trừ có thể cấu thành tội trốn thuế khi đáp ứng điều kiện luật định. Đối với cá nhân, ngưỡng truy cứu thông thường là số tiền trốn thuế từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; trường hợp dưới mức này vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc các điều kiện đặc biệt được điều luật quy định. (Điều 200 Bộ luật Hình sự)

Ví dụ, Công ty A mua hóa đơn khống từ Công ty B để ghi nhận chi phí đầu vào không có thật, qua đó làm giảm thu nhập chịu thuế. Nếu số tiền trốn thuế và các yếu tố khác đáp ứng điều kiện truy cứu, người liên quan có thể bị xem xét về tội trốn thuế.

Cần lưu ý, mua bán hóa đơn trái phép và trốn thuế là hai hành vi khác nhau. Việc có thể xử lý về một hay nhiều tội danh phải căn cứ vào hành vi cụ thể và các dấu hiệu cấu thành tương ứng, không phải cứ có hóa đơn khống là mặc nhiên phạm cả hai tội.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự

Nếu doanh nghiệp được thành lập để phát hành hóa đơn khống và sử dụng các hóa đơn này làm thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tiền hoặc tài sản của người khác, người thực hiện còn có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Ví dụ, một doanh nghiệp lập hồ sơ giao dịch giả, sử dụng hóa đơn khống và chứng từ không có thật để tạo niềm tin, sau đó yêu cầu đối tác thanh toán tiền cho hàng hóa hoặc dịch vụ thực tế không được cung cấp. Nếu chứng minh được thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản và các điều kiện cấu thành tội phạm, người thực hiện có thể bị truy cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, việc phát hành hóa đơn khống không tự động cấu thành tội lừa đảo. Cần có căn cứ về hành vi gian dối, ý định chiếm đoạt, tài sản bị chiếm đoạt và các điều kiện pháp lý liên quan.

Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 221

Hóa đơn khống thường được sử dụng để ghi nhận các giao dịch không có thật trong hệ thống kế toán. Nếu người có trách nhiệm thực hiện hành vi giả mạo, khai man hoặc thỏa thuận để người khác cung cấp số liệu kế toán sai sự thật và gây hậu quả đạt mức luật định, họ có thể bị xem xét về tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 221 Bộ luật Hình sự.

Tội danh này không áp dụng chỉ vì doanh nghiệp có hóa đơn sai. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định hành vi vi phạm quy định kế toán cụ thể, chủ thể thực hiện, hậu quả và các điều kiện cấu thành tội phạm.

Trong vụ việc có nhiều hành vi liên quan, việc xác định có xử lý thêm tội danh về kế toán hay không phải căn cứ vào chứng cứ và mối quan hệ giữa các hành vi, tránh suy luận rằng mọi hóa đơn khống đều đồng thời cấu thành tội phạm kế toán.

Người đứng tên thành lập doanh nghiệp có đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Không. Việc đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không tự động chứng minh người đó là người phạm tội.

Cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ vai trò và nhận thức của từng người, chẳng hạn:

  • Ai quyết định thành lập doanh nghiệp và mục đích thực tế của việc thành lập;
  • Ai quản lý chữ ký số, tài khoản hóa đơn điện tử và tài khoản ngân hàng;
  • Ai chỉ đạo lập, phát hành hoặc bán hóa đơn;
  • Ai trực tiếp giao dịch, nhận tiền và phân chia khoản thu;
  • Ai biết hóa đơn không phản ánh giao dịch có thật nhưng vẫn cố ý tham gia.

Người tổ chức, xúi giục, thực hành hoặc giúp sức có thể bị xem xét trách nhiệm đồng phạm nếu đáp ứng điều kiện theo Điều 17 Bộ luật Hình sự. Ngược lại, người chỉ đứng tên mà không biết, không cố ý tham gia và không có căn cứ chứng minh vai trò phạm tội thì không thể bị kết luận có tội chỉ dựa vào tên trên hồ sơ doanh nghiệp.

Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Nếu được nhờ đứng tên thành lập công ty, làm giám đốc hoặc cho mượn chữ ký số để xuất hóa đơn, cần làm rõ hoạt động kinh doanh thực tế và mục đích sử dụng hóa đơn trước khi đồng ý. Việc giao quyền kiểm soát tài khoản, chữ ký số hoặc giấy tờ doanh nghiệp cho người khác có thể khiến bản thân gặp rủi ro pháp lý nếu các công cụ đó bị sử dụng vào hành vi vi phạm.

Ví dụ thực tế về doanh nghiệp được lập để bán hóa đơn khống

A thành lập Công ty X nhưng không tổ chức hoạt động kinh doanh thực tế. A sử dụng chữ ký số của công ty để phát hành hóa đơn cho nhiều doanh nghiệp khác, thu tiền theo số lượng hoặc giá trị hóa đơn. Những doanh nghiệp mua hóa đơn sau đó sử dụng chứng từ này để ghi nhận chi phí đầu vào không có thật.

Trong tình huống này, cơ quan chức năng có thể xem xét:

  • Hành vi của A và người tham gia phát hành, mua bán hóa đơn theo Điều 203;
  • Hành vi của bên sử dụng hóa đơn để giảm số thuế phải nộp theo Điều 200, nếu đủ điều kiện;
  • Trách nhiệm về lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc vi phạm quy định về kế toán nếu có hành vi độc lập đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của các tội danh tương ứng;
  • Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nếu đáp ứng điều kiện luật định.

Kết quả xử lý phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, khoản thu lợi, thiệt hại ngân sách, dòng tiền, vai trò của từng người và chứng cứ thu thập được. Không thể chỉ dựa vào việc Công ty X không có hoạt động kinh doanh thực tế để tự động kết luận tất cả những người liên quan phạm cùng một tội.

>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!

Đặt lịch tư vấn

Kết luận

Thành lập doanh nghiệp chỉ để xuất hóa đơn khống có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự, trong đó Điều 203 Bộ luật Hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn là căn cứ quan trọng nhất cần xem xét. Nếu hóa đơn được sử dụng để làm giảm nghĩa vụ thuế, chiếm đoạt tài sản hoặc làm sai lệch sổ sách kế toán và có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người liên quan còn có thể bị xem xét về các tội danh tương ứng như trốn thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.

Việc xác định trách nhiệm phải căn cứ vào hành vi thực tế, mục đích, số lượng hóa đơn, khoản thu lợi, thiệt hại và vai trò của từng cá nhân, pháp nhân. Người đứng tên doanh nghiệp không mặc nhiên phạm tội, nhưng cũng không thể lấy lý do chỉ đứng tên hộ để loại trừ trách nhiệm nếu có chứng cứ cho thấy họ biết và cố ý tham gia. Khi có dấu hiệu liên quan đến hóa đơn khống, nên rà soát hồ sơ giao dịch, chứng từ kế toán và dòng tiền với luật sư để xác định đúng rủi ro pháp lý.

Chat Zalo
Đặt Lịch

    PHIẾU ĐẶT LỊCH

    Vui lòng điền thông tin liên hệ và lựa chọn Hình thức tư vấn phù hợp với yêu cầu của bạn.






    Bạn vui lòng quét mã để thanh toán phí tư vấn và nhấn Đặt lịch tư vấn. Lưu ý: Lịch tư vấn chỉ được xác nhận khi thanh toán thành công. Trong vòng 05 phút, chúng tôi sẽ liên hệ để xác nhận và kết nối bạn với đội ngũ luật sư.


    Luật sư tư vấn trực tiếp

    Luật sư tư vấn Online

    Bạn cần thanh toán trước khi gửi phiếu đặt lịch