Khi lập di chúc, người làm chứng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc xác nhận quá trình thể hiện ý chí của người để lại tài sản. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ điều kiện làm chứng cho việc lập di chúc. Nếu người làm chứng thuộc trường hợp bị pháp luật loại trừ hoặc việc lập di chúc không tuân thủ đúng thủ tục, tính hợp pháp của di chúc có thể bị tranh chấp.
Vậy người làm chứng di chúc cần đáp ứng điều kiện gì, ai không được làm chứng và di chúc có người làm chứng cần bao nhiêu người? Bài viết dưới đây phân tích các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, giúp người lập di chúc và những người liên quan hạn chế rủi ro pháp lý khi phân chia di sản thừa kế.
Người làm chứng di chúc là ai?
Người làm chứng di chúc là người chứng kiến việc lập di chúc và thực hiện các công việc xác nhận theo yêu cầu của pháp luật đối với từng hình thức di chúc.
Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những trường hợp bị pháp luật loại trừ. Quy định này nhằm bảo đảm người làm chứng có khả năng tham gia một cách khách quan, hạn chế nguy cơ tác động đến ý chí của người để lại tài sản.
Không phải mọi di chúc đều bắt buộc phải có người làm chứng. Người lập di chúc có thể tự viết và ký vào di chúc bằng văn bản mà không cần người làm chứng nếu đáp ứng các điều kiện tại Điều 633 Bộ luật Dân sự. Trong khi đó, một số hình thức di chúc yêu cầu phải có người làm chứng để bảo đảm tính hợp pháp.
Vai trò của người làm chứng khi lập di chúc
Tùy từng trường hợp, người làm chứng có thể thực hiện các công việc như:
- Chứng kiến người lập di chúc ký tên hoặc điểm chỉ.
- Xác nhận việc ký tên hoặc điểm chỉ được thực hiện trước mặt mình.
- Ký vào di chúc để xác nhận việc làm chứng theo quy định.
- Ghi chép lại ý chí cuối cùng của người lập di chúc miệng và ký tên hoặc điểm chỉ theo thủ tục luật định.
Người làm chứng không có quyền tự quyết định ai được hưởng di sản, thay đổi nội dung di chúc hoặc phân chia tài sản theo ý mình. Nội dung di chúc phải phản ánh ý chí hợp pháp của người lập di chúc.
Điều kiện để được làm chứng cho việc lập di chúc
Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 không đặt ra một danh sách điều kiện phức tạp đối với tất cả người làm chứng, nhưng quy định rõ những trường hợp không được làm chứng. Vì vậy, trước khi lựa chọn người làm chứng, cần kiểm tra xem người đó có thuộc nhóm bị loại trừ hay không.
Không phải là người thừa kế của người lập di chúc
Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc không được làm chứng cho việc lập di chúc.
Ví dụ, ông A lập di chúc để lại căn nhà cho con gái là B. B thuộc diện người thừa kế theo di chúc nên không được làm chứng cho việc lập di chúc của ông A.
Quy định này áp dụng cả với người thừa kế theo pháp luật, kể cả khi người đó không được chỉ định hưởng tài sản trong bản di chúc đang được lập. Việc xác định cần căn cứ vào quan hệ thừa kế cụ thể theo pháp luật.
Không có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc
Người có quyền hoặc nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc cũng không được làm chứng.
Chẳng hạn, một người đang có tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản được đưa vào di chúc có thể thuộc trường hợp bị loại trừ nếu quyền hoặc nghĩa vụ tài sản của họ liên quan đến nội dung di chúc.
Trong thực tế, cần xem xét mối liên hệ giữa quyền, nghĩa vụ tài sản của người dự kiến làm chứng với tài sản và nội dung được định đoạt. Không nên chỉ dựa vào việc người đó có quen biết hay không quen biết với người lập di chúc để kết luận họ đủ điều kiện làm chứng.
Đủ tuổi và có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi theo luật
Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự, những người sau đây không được làm chứng:
- Người chưa thành niên.
- Người mất năng lực hành vi dân sự.
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Do đó, người làm chứng phải không thuộc các trường hợp bị loại trừ này. Khi lựa chọn người làm chứng, nên ưu tiên người có khả năng nhận thức rõ sự việc, hiểu được vai trò của mình và thực hiện đúng các bước xác nhận theo quy định.
>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!
Những ai không được làm chứng cho việc lập di chúc?
Có thể tóm tắt ba nhóm người không được làm chứng theo Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
| Nhóm người | Lý do không được làm chứng |
|---|---|
| Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật | Có khả năng liên quan trực tiếp đến quyền hưởng di sản |
| Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc | Có lợi ích tài sản liên quan đến việc định đoạt di sản |
| Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi | Không đáp ứng điều kiện luật định để làm chứng |
Nếu người thuộc một trong các nhóm trên vẫn tham gia làm chứng, việc lập di chúc có thể phát sinh tranh chấp về tính hợp pháp. Tuy nhiên, không nên kết luận rằng toàn bộ di chúc đương nhiên vô hiệu chỉ dựa vào một sai sót đơn lẻ; cần đánh giá hình thức di chúc, thủ tục lập và các điều kiện hợp pháp khác theo quy định.
Di chúc có người làm chứng cần bao nhiêu người?
Số lượng người làm chứng phụ thuộc vào hình thức và hoàn cảnh lập di chúc.
Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Theo Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự đánh máy hoặc nhờ người khác viết, đánh máy. Trong trường hợp này, di chúc phải có ít nhất hai người làm chứng.
Người lập di chúc phải ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng. Những người làm chứng xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc còn phải tuân thủ các yêu cầu về nội dung tại Điều 631 và điều kiện về người làm chứng tại Điều 632 Bộ luật Dân sự.
Di chúc miệng
Theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc miệng có thể được coi là hợp pháp nếu người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và đáp ứng các điều kiện luật định.
Ngay sau khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thể hiện ý chí cuối cùng, di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Ngoài ra, di chúc miệng chỉ được lập trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và người đó không thể lập di chúc bằng văn bản. Nếu sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc miệng, người lập vẫn còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ theo khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự.
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Nếu người lập di chúc tự viết và ký vào bản di chúc, có thể lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng theo Điều 633 Bộ luật Dân sự.
Trong trường hợp này, bản di chúc phải đáp ứng các điều kiện về nội dung và tính hợp pháp theo Điều 630, Điều 631 và các quy định có liên quan. Không phải cứ không có người làm chứng là di chúc vô hiệu.
Người làm chứng có bắt buộc phải ký vào di chúc không?
Đối với di chúc bằng văn bản có người làm chứng theo Điều 634 Bộ luật Dân sự, người làm chứng phải ký vào bản di chúc sau khi xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Đối với di chúc miệng, người làm chứng phải ghi chép lại ý chí cuối cùng của người lập di chúc và cùng ký tên hoặc điểm chỉ theo quy định tại khoản 5 Điều 630.
Nếu người làm chứng không ký hoặc không thực hiện đúng thủ tục cần thiết, di chúc có thể bị tranh chấp về tính hợp pháp. Cần kiểm tra hình thức di chúc và các chứng cứ liên quan để xác định hậu quả pháp lý cụ thể.
Đối với di chúc được lập tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực, thủ tục có thể có yêu cầu riêng tùy tình trạng của người lập di chúc. Chẳng hạn, nếu người lập di chúc không đọc được, không nghe được hoặc không thể ký, điểm chỉ theo trường hợp luật định, có thể cần người làm chứng tham gia theo thủ tục tương ứng.
Người làm chứng không hợp lệ có làm di chúc vô hiệu không?
Không thể kết luận trong mọi trường hợp rằng chỉ cần người làm chứng không hợp lệ thì toàn bộ di chúc tự động vô hiệu. Tuy nhiên, đây là một yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tính hợp pháp của di chúc.
Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện về năng lực và ý chí của người lập di chúc, nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức phù hợp với quy định pháp luật.
Vì vậy, nếu người làm chứng thuộc trường hợp bị cấm hoặc thủ tục làm chứng không được thực hiện đúng, cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ cần đánh giá tổng thể các điều kiện lập di chúc, hình thức di chúc và chứng cứ có liên quan.
Luật sư Nguyễn Văn Hùng lưu ý: Khi có tranh chấp về người làm chứng di chúc, các bên nên lưu giữ bản gốc di chúc, tài liệu về quá trình lập di chúc và thông tin về người làm chứng. Nếu nghi ngờ có việc giả mạo chữ ký, ép buộc hoặc tác động đến ý chí của người lập di chúc, cần thu thập chứng cứ hợp pháp để bảo vệ quyền lợi của mình.
Ví dụ về việc lựa chọn người làm chứng di chúc
Ông A lập di chúc để lại căn nhà cho con trai B. Do không tự viết bản di chúc, ông A nhờ người khác đánh máy và mời hai người hàng xóm làm chứng. Nếu hai người này không thuộc các trường hợp bị loại trừ, ông A ký hoặc điểm chỉ trước mặt họ và họ thực hiện đúng thủ tục xác nhận, việc lập di chúc có thể đáp ứng yêu cầu về người làm chứng theo Điều 634 Bộ luật Dân sự.
Ngược lại, nếu ông A mời chính người con B — người được hưởng di sản theo di chúc — làm chứng, B thuộc trường hợp không được làm chứng theo Điều 632. Khi đó, cần xem xét tính hợp pháp của di chúc trên cơ sở toàn bộ quy định liên quan, thay vì mặc nhiên cho rằng bản di chúc chắc chắn có hiệu lực hoặc chắc chắn vô hiệu.
Kết luận
Người làm chứng di chúc phải đáp ứng điều kiện theo Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015, đặc biệt không thuộc nhóm người thừa kế, người có quyền hoặc nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc, người chưa thành niên hoặc người thuộc các trường hợp hạn chế về năng lực nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định. Số lượng người làm chứng phụ thuộc vào hình thức di chúc; di chúc bằng văn bản do người khác viết hoặc đánh máy và di chúc miệng trong trường hợp luật định đều yêu cầu ít nhất hai người làm chứng.
Để hạn chế tranh chấp thừa kế, người lập di chúc nên lựa chọn người làm chứng khách quan, không có lợi ích tài sản liên quan và thực hiện đầy đủ thủ tục ký tên, điểm chỉ, xác nhận. Khi phát sinh tranh chấp về hiệu lực di chúc, cần kiểm tra cả điều kiện của người lập di chúc, nội dung, hình thức và quá trình lập di chúc để xác định hướng giải quyết phù hợp.
