Ngoại tình có bị đi tù không? Khi nào bị truy cứu hình sự?

Trong đời sống hôn nhân, ngoại tình thường được hiểu là việc một người đang có vợ hoặc chồng nhưng phát sinh quan hệ tình cảm, tình dục với người khác. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp ngoại tình đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Pháp luật hình sự chỉ xử lý khi hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự.

Theo quy định hiện hành, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng biết rõ đối phương đang có gia đình mà vẫn kết hôn, chung sống như vợ chồng, có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc các trường hợp luật định. Mức phạt cao nhất của tội này có thể lên đến 03 năm tù.

Ngoại tình có bị đi tù không?

Câu trả lời là có thể, nhưng không phải cứ ngoại tình là bị đi tù.

Điều 182 Bộ luật Hình sự không hình sự hóa mọi hành vi quan hệ tình cảm hoặc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Điều luật tập trung vào hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng và chỉ truy cứu khi có thêm các điều kiện nhất định.

Cụ thể, người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn, chung sống như vợ chồng với người khác có thể bị truy cứu khi:

  • Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Ngoài ra, nếu hành vi làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát, hoặc đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ trái pháp luật nhưng vẫn tiếp tục duy trì thì mức xử lý còn nghiêm khắc hơn.

Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Không nên đồng nhất “ngoại tình” với “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng”. Muốn truy cứu trách nhiệm hình sự phải chứng minh được hành vi thuộc phạm vi Điều 182 và đáp ứng các điều kiện luật định.

Điều 182 Bộ luật Hình sự quy định về ngoại tình như thế nào?

Hành vi nào có thể cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng?

Khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự quy định người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có chồng, có vợ, có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp luật định.

Điều này cho thấy pháp luật không chỉ xem xét việc hai người có quan hệ tình cảm hay quan hệ tình dục hay không mà còn phải xác định có tồn tại hành vi “kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng”.

“Chung sống như vợ chồng” được hiểu thế nào?

Đây là yếu tố quan trọng khi xác định trách nhiệm hình sự.

Việc hai người có quan hệ tình cảm hoặc thỉnh thoảng gặp nhau chưa đương nhiên đồng nghĩa với việc “chung sống như vợ chồng”.

Khi đánh giá, cần xem xét thực tế mối quan hệ như:

  • Có tổ chức cuộc sống chung;
  • Cùng sinh hoạt tại một địa điểm;
  • Có sự gắn bó ổn định như một gia đình;
  • Được người thân, hàng xóm hoặc xã hội nhìn nhận như vợ chồng;
  • Có con chung hoặc cùng thực hiện các trách nhiệm gia đình;
  • Có những dấu hiệu khác thể hiện việc duy trì cuộc sống chung.

Việc xác định phải dựa trên toàn bộ hoàn cảnh và chứng cứ cụ thể, không thể chỉ dựa vào một tin nhắn hoặc một lần hai người ở cùng nhau.

Khi nào ngoại tình bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Ngoại tình làm cho một hoặc hai bên ly hôn

Theo điểm a khoản 1 Điều 182, nếu người đang có vợ hoặc chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và hành vi đó làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ, A đang có vợ là B nhưng vẫn chung sống như vợ chồng với C. Sau đó, quan hệ này khiến cuộc hôn nhân của A và B chấm dứt bằng bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án.

Nếu các dấu hiệu khác của Điều 182 được đáp ứng, A có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Điểm quan trọng là phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng và việc quan hệ hôn nhân dẫn đến ly hôn.

Đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm

Đây là trường hợp thứ hai thuộc khoản 1 Điều 182.

Nếu một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng nhưng sau đó vẫn tiếp tục thực hiện hành vi, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ:

A đang có vợ nhưng chung sống như vợ chồng với C. A đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này. Sau đó, A vẫn tiếp tục duy trì quan hệ chung sống như vợ chồng với C.

Trong trường hợp này, hành vi tiếp tục vi phạm có thể là căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 182.

Ngoại tình làm vợ hoặc chồng tự sát thì bị phạt thế nào?

Đây là trường hợp nghiêm trọng hơn được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 182.

Nếu hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát, người phạm tội có thể bị phạt tù từ:

06 tháng đến 03 năm.

Để áp dụng trường hợp này, không chỉ cần chứng minh có hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng mà còn phải chứng minh hậu quả tự sát có mối liên hệ với hành vi đó.

Đây là tình tiết đặc biệt nghiêm trọng vì hậu quả đã tác động trực tiếp đến tính mạng của người thân trong gia đình.

Đã có quyết định của Tòa án nhưng vẫn ngoại tình thì sao?

Điểm b khoản 2 Điều 182 quy định trường hợp người phạm tội đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Nếu tiếp tục vi phạm trong trường hợp này, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng một người đã được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chấm dứt quan hệ trái pháp luật nhưng vẫn cố tình duy trì.

Lưu ý từ Luật sư Đặng Quý Tiên: Việc Tòa án đã ra quyết định buộc chấm dứt quan hệ là căn cứ rất quan trọng. Nếu người vi phạm vẫn tiếp tục chung sống như vợ chồng, trách nhiệm hình sự có thể được xem xét theo khoản 2 Điều 182.

Mức phạt Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

Điều 182 hiện quy định hai khung hình phạt chính.

Khung hình phạt từ cảnh cáo đến 01 năm tù

Theo khoản 1 Điều 182, người phạm tội có thể bị:

  • Phạt cảnh cáo;
  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm;
  • Phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Khung này áp dụng khi hành vi làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù

Theo khoản 2 Điều 182, người phạm tội bị phạt tù từ:

06 tháng đến 03 năm

nếu thuộc một trong các trường hợp:

  • Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
  • Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, 03 năm tù là mức cao nhất được quy định đối với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182.

Ngoại tình có bị phạt hành chính không?

Trước khi xem xét trách nhiệm hình sự, hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính nếu chưa đủ điều kiện truy cứu hình sự.

Điều này đặc biệt quan trọng bởi “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm” chính là một trong những căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 182.

Do đó, việc xử phạt hành chính và trách nhiệm hình sự là hai cấp độ xử lý khác nhau, tùy thuộc tính chất và mức độ của hành vi.

Người thứ ba có bị xử lý hình sự không?

Có thể.

Không chỉ người đang có vợ hoặc chồng mới có khả năng bị xử lý.

Điều 182 cũng quy định trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có chồng, có vợ.

Như vậy, nếu người thứ ba biết rõ đối phương đã có gia đình nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng và hành vi thuộc trường hợp quy định tại Điều 182, người này cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngược lại, nếu người thứ ba không biết đối phương đã có vợ hoặc chồng thì cần xem xét yếu tố nhận thức và lỗi trước khi xác định trách nhiệm.

Có phải cứ có bằng chứng ngoại tình là người kia bị đi tù?

Không.

Hình ảnh, tin nhắn, video hoặc lời khai có thể là chứng cứ để làm rõ một mối quan hệ, nhưng bản thân việc có bằng chứng ngoại tình không đồng nghĩa với việc người đó chắc chắn phạm Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ:

  • Người thực hiện có đang có vợ hoặc chồng hay không;
  • Người còn lại có biết tình trạng hôn nhân của đối phương hay không;
  • Hai người có kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng hay không;
  • Hành vi có thuộc trường hợp quy định tại Điều 182 hay không;
  • Có hậu quả ly hôn hoặc hậu quả khác theo luật định hay không;
  • Người vi phạm đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này hay chưa.

Chỉ khi các dấu hiệu cần thiết được chứng minh thì mới có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngoại tình có ảnh hưởng đến việc giải quyết ly hôn không?

Có.

Ngay cả khi hành vi ngoại tình chưa đủ dấu hiệu để truy cứu hình sự, nó vẫn có thể có ý nghĩa trong vụ án ly hôn.

Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, hành vi của vợ hoặc chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng có thể được Tòa án xem xét khi giải quyết quan hệ hôn nhân, đặc biệt trong trường hợp đánh giá tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.

Ngoài ra, hành vi vi phạm nghĩa vụ chung thủy còn có thể trở thành một trong những tình tiết được xem xét khi giải quyết các vấn đề liên quan đến con chung, tài sản và nghĩa vụ giữa vợ chồng, tùy từng vụ án.

Ví dụ trường hợp ngoại tình bị truy cứu hình sự

A đang có vợ là B nhưng vẫn công khai chung sống như vợ chồng với C. Quan hệ này khiến cuộc hôn nhân của A và B đổ vỡ và sau đó Tòa án giải quyết cho A và B ly hôn.

Nếu cơ quan có thẩm quyền chứng minh được A đã thực hiện hành vi chung sống như vợ chồng với C và hành vi đó là nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn, A có thể bị xem xét về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo điểm a khoản 1 Điều 182.

Nếu trước đó A đã bị xử phạt hành chính về chính hành vi này mà vẫn tiếp tục vi phạm thì cũng có thể bị truy cứu theo điểm b khoản 1 Điều 182.

Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy đăng ký tư vấn trực tiếp hoặc online với Luật Thiên Mã để được giải đáp chi tiết, xây dựng phương án xử lý tối ưu với chi phí hợp lý, phải chăng và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Đặt lịch tư vấn

Kết luận

Ngoại tình không mặc nhiên bị đi tù. Người đang có vợ hoặc chồng chỉ có thể bị truy cứu về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự khi có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và thuộc các trường hợp luật định, như làm cho quan hệ hôn nhân dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm.

Mức phạt cao nhất đối với tội này là 03 năm tù, áp dụng trong các trường hợp nghiêm trọng như làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát hoặc vẫn duy trì quan hệ trái pháp luật sau khi có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt. Vì vậy, để xác định một trường hợp ngoại tình có bị xử lý hình sự hay không, cần xem xét hành vi thực tế, tình trạng hôn nhân, mức độ chung sống, hậu quả và các chứng cứ cụ thể.

Chat Zalo
Đặt Lịch

    PHIẾU ĐẶT LỊCH

    Vui lòng điền thông tin liên hệ và lựa chọn Hình thức tư vấn phù hợp với yêu cầu của bạn.






    Bạn vui lòng quét mã để thanh toán phí tư vấn và nhấn Đặt lịch tư vấn. Lưu ý: Lịch tư vấn chỉ được xác nhận khi thanh toán thành công. Trong vòng 05 phút, chúng tôi sẽ liên hệ để xác nhận và kết nối bạn với đội ngũ luật sư.


    Luật sư tư vấn trực tiếp

    Luật sư tư vấn Online

    Bạn cần thanh toán trước khi gửi phiếu đặt lịch