Tiền cấp dưỡng thường được thực hiện định kỳ hằng tháng, hằng quý, nửa năm hoặc hằng năm. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp người phải cấp dưỡng nhiều năm không thực hiện nghĩa vụ, hoặc người được cấp dưỡng không nhận tiền trong một thời gian dài rồi mới yêu cầu thanh toán. Khi đó, câu hỏi được đặt ra là không nhận tiền cấp dưỡng nhiều năm có được truy lĩnh hay không?
Pháp luật không quy định đơn giản rằng cứ không nhận tiền trong nhiều năm là mất quyền yêu cầu. Việc có thể yêu cầu khoản cấp dưỡng chưa được nhận hay không cần căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án, thỏa thuận về cấp dưỡng, thời điểm phát sinh nghĩa vụ, việc người được cấp dưỡng có tự nguyện không yêu cầu hay không và thời hiệu yêu cầu thi hành án. Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định nghĩa vụ cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng; từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành án dân sự 2025 cũng đang được áp dụng để giải quyết vấn đề thời hiệu thi hành các khoản cấp dưỡng đã được tuyên.
Không nhận tiền cấp dưỡng nhiều năm có được truy lĩnh không?
Có thể được yêu cầu thanh toán khoản cấp dưỡng chưa được thực hiện, nếu nghĩa vụ cấp dưỡng đã phát sinh và người có nghĩa vụ thực tế chưa thực hiện.
Theo Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình, cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hằng tháng, hằng quý, nửa năm, hằng năm hoặc một lần. Khi nghĩa vụ được thực hiện định kỳ mà người phải cấp dưỡng không trả đúng hạn, các khoản đến hạn có thể trở thành nghĩa vụ chưa được thực hiện.
Tuy nhiên, cần chia thành hai trường hợp:
- Đã có bản án, quyết định của Tòa án buộc cấp dưỡng nhưng nhiều năm không nhận được tiền: về nguyên tắc có thể yêu cầu thi hành đối với các khoản chưa được thanh toán, nhưng phải kiểm tra thời hiệu yêu cầu thi hành án.
- Chưa có bản án hoặc quyết định xác định mức cấp dưỡng: việc yêu cầu “truy lĩnh” nhiều năm phức tạp hơn, bởi cần xác định thời điểm nghĩa vụ phát sinh, mức cấp dưỡng và trường hợp người trực tiếp nuôi con có tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng hay không.
Đặc biệt, Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con phát sinh từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trường hợp đã có bản án buộc cấp dưỡng nhưng nhiều năm không nhận tiền
Đây là trường hợp có cơ sở rõ ràng nhất để yêu cầu thanh toán khoản cấp dưỡng còn thiếu.
Ví dụ, bản án năm 2022 tuyên người cha phải cấp dưỡng cho con 3 triệu đồng/tháng, bắt đầu từ tháng 7/2022 đến khi con đủ 18 tuổi.
Người cha không thanh toán từ tháng 7/2022 đến tháng 7/2026.
Nếu chưa có khoản nào được thanh toán, về nguyên tắc có thể xác định số tiền cấp dưỡng còn thiếu theo các kỳ đã đến hạn và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi hành.
Tuy nhiên, người được thi hành án cần đặc biệt lưu ý thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Theo Luật Thi hành án dân sự 2025, đang có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực hoặc từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Đối với nghĩa vụ thi hành theo định kỳ, thời hiệu 05 năm được tính đối với từng định kỳ kể từ ngày nghĩa vụ của kỳ đó đến hạn.
Như vậy, không nên hiểu rằng chỉ cần bản án đã tuyên cấp dưỡng thì sau bao nhiêu năm cũng có thể bỏ qua vấn đề thời hiệu.
Nếu người được cấp dưỡng từng từ chối nhận tiền thì có được truy lĩnh không?
Trường hợp này cần xem xét rất kỹ.
Nếu người phải cấp dưỡng không trả tiền thì khác với trường hợp người được cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con chủ động từ chối nhận tiền.
Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định nếu người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng thì Tòa án phải giải thích rằng yêu cầu cấp dưỡng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xác định người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng cho con.
Do đó, nếu ngay từ khi giải quyết ly hôn, người trực tiếp nuôi con tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng và Tòa án không tuyên nghĩa vụ cấp dưỡng thì không thể mặc nhiên lấy mức cấp dưỡng giả định của những năm trước để yêu cầu “truy lĩnh”.
Ngược lại, nếu bản án đã tuyên rõ nghĩa vụ cấp dưỡng mà sau đó người phải cấp dưỡng không thực hiện thì việc người được cấp dưỡng không nhận tiền trong một thời gian không đương nhiên làm cho nghĩa vụ trong bản án biến mất.
Không nhận tiền cấp dưỡng có đồng nghĩa với từ bỏ quyền cấp dưỡng không?
Không phải trong mọi trường hợp.
Cần xác định lý do tại sao không nhận tiền.
Có thể xảy ra các trường hợp như:
- Người phải cấp dưỡng không chuyển tiền;
- Người phải cấp dưỡng chuyển tiền nhưng người nhận không nhận được;
- Người được cấp dưỡng hoặc người đại diện từ chối nhận;
- Hai bên có thỏa thuận tạm thời không cấp dưỡng;
- Người trực tiếp nuôi con trước đây tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng;
- Bản án đã tuyên cấp dưỡng nhưng chưa yêu cầu thi hành án;
- Hai bên có tranh chấp về phương thức hoặc địa điểm nhận tiền.
Mỗi trường hợp có hậu quả pháp lý khác nhau.
Theo Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình, các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng hoặc tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế và không có khả năng thực hiện nghĩa vụ; nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì vậy, khi tranh chấp phát sinh sau nhiều năm, tin nhắn, giấy biên nhận, sao kê ngân hàng, giấy chuyển tiền, thỏa thuận giữa hai bên và nội dung bản án có thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các khoản nào đã được thanh toán và khoản nào còn thiếu.
Lưu ý từ Luật sư Đặng Quý Tiên: Khi muốn yêu cầu tiền cấp dưỡng của nhiều năm trước, không nên chỉ tính số tiền theo mức cấp dưỡng nhân với số tháng rồi cho rằng chắc chắn được nhận toàn bộ. Cần kiểm tra bản án hoặc quyết định đã tuyên gì, thời điểm từng khoản đến hạn, có thỏa thuận thay đổi hoặc tạm ngừng cấp dưỡng hay không và từng khoản có còn thời hiệu yêu cầu thi hành án hay không.
Chưa có bản án thì có được yêu cầu cấp dưỡng cho những năm trước không?
Trường hợp này cần phân biệt nghĩa vụ cấp dưỡng đã phát sinh với mức cấp dưỡng đã được xác định.
Theo Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình, cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên và con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp luật định.
Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP cũng xác định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con phát sinh từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, mức cấp dưỡng cụ thể lại được xác định dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ quyết định.
Do đó, nếu trước đây chưa có bản án hoặc thỏa thuận xác định mức cấp dưỡng thì việc yêu cầu Tòa án giải quyết khoản tiền của nhiều năm trước không giống với việc yêu cầu thi hành một bản án đã có hiệu lực.
Người yêu cầu cần chứng minh các yếu tố liên quan đến thời điểm phát sinh nghĩa vụ, việc không thực hiện nghĩa vụ và mức cấp dưỡng phù hợp trong từng giai đoạn.
Thời hiệu truy lĩnh tiền cấp dưỡng được tính thế nào?
Nếu khoản cấp dưỡng đã được tuyên trong bản án và thực hiện định kỳ, cần chú ý quy định về thời hiệu thi hành án.
Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm. Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ, thời hiệu 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Ví dụ, bản án tuyên cấp dưỡng 4 triệu đồng/tháng, kỳ thanh toán tháng 8/2021 đến hạn vào tháng 8/2021. Nếu đến nay người được thi hành án chưa yêu cầu thi hành thì cần kiểm tra riêng thời hiệu của khoản tháng 8/2021, thay vì mặc nhiên tính 05 năm từ ngày bản án được tuyên cho toàn bộ các khoản.
Đây là điểm rất quan trọng khi tính khoản cấp dưỡng còn thiếu trong thời gian dài.
Ngoài ra, pháp luật có cơ chế xử lý trường hợp người yêu cầu không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng, nếu chứng minh được lý do.
Nếu người phải cấp dưỡng cố tình không trả thì xử lý thế nào?
Nếu đã có bản án, quyết định có hiệu lực và người phải cấp dưỡng không tự nguyện thực hiện, người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.
Luật Thi hành án dân sự 2025 cho phép yêu cầu thi hành án theo nhiều hình thức và quy định thời hạn tự nguyện thi hành án. Trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện, cơ quan thi hành án có thể áp dụng các biện pháp theo quy định để bảo đảm việc thi hành.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng, pháp luật còn cho phép áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Đây là một trong những biện pháp phù hợp với loại nghĩa vụ phải thực hiện định kỳ.
Vì vậy, nếu người phải cấp dưỡng có tiền lương, tiền công hoặc thu nhập hợp pháp nhưng cố tình không thực hiện nghĩa vụ, người được cấp dưỡng có thể yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh và áp dụng biện pháp phù hợp theo quy định.
Tiền cấp dưỡng có được tính lãi khi chậm trả không?
Đây là vấn đề cần xem xét theo nội dung bản án và quy định về nghĩa vụ trả tiền.
Trong thực tiễn xét xử, có những bản án tuyên rõ rằng kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thanh toán thì khoản tiền còn phải thi hành có thể phát sinh lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Do đó, khi yêu cầu thanh toán cấp dưỡng còn thiếu, cần kiểm tra chính xác phần tuyên về cấp dưỡng và phần trách nhiệm do chậm thi hành án trong bản án, thay vì mặc nhiên cộng lãi cho toàn bộ thời gian chưa nhận tiền.
Ví dụ về truy lĩnh tiền cấp dưỡng nhiều năm
Trường hợp đã có bản án
A và B ly hôn năm 2021. Bản án buộc A cấp dưỡng cho con 3 triệu đồng/tháng từ tháng 1/2022 đến khi con đủ 18 tuổi.
Từ tháng 1/2022 đến tháng 12/2025, A không thực hiện nghĩa vụ.
B muốn yêu cầu thanh toán số tiền cấp dưỡng còn thiếu.
Trường hợp này có cơ sở để yêu cầu thi hành phần nghĩa vụ chưa được thực hiện. Tuy nhiên, cần xác định từng kỳ cấp dưỡng đã đến hạn và kiểm tra thời hiệu yêu cầu thi hành án đối với từng kỳ.
Trường hợp trước đây tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng
C và D ly hôn năm 2021. Người trực tiếp nuôi con không yêu cầu D cấp dưỡng và Tòa án không buộc D cấp dưỡng.
Đến năm 2026, C yêu cầu D trả tiền cấp dưỡng của 5 năm trước.
Trong trường hợp này, không thể mặc nhiên lấy một mức cấp dưỡng hiện tại nhân với 60 tháng để xác định số tiền phải trả. Cần xem xét nội dung bản án, việc không yêu cầu cấp dưỡng trước đây có tự nguyện hay không và căn cứ pháp lý để xác định nghĩa vụ, mức cấp dưỡng.
Trường hợp người phải cấp dưỡng đã chuyển tiền nhưng người nhận từ chối
E có nghĩa vụ cấp dưỡng 2 triệu đồng/tháng. E nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản của người trực tiếp nuôi con nhưng người này từ chối nhận và tiền được ngân hàng hoàn lại.
Sau nhiều năm, người nhận yêu cầu E thanh toán toàn bộ số tiền của các tháng trước.
Trong tình huống này, các chứng từ chuyển khoản, thông báo giao dịch thất bại hoặc hoàn tiền có thể trở thành chứng cứ quan trọng. Tòa án hoặc cơ quan thi hành án cần xác định thực tế E đã thực hiện nghĩa vụ đến đâu, khoản nào chưa được thanh toán và nguyên nhân không nhận tiền.
Cần chuẩn bị gì nếu muốn yêu cầu truy lĩnh tiền cấp dưỡng?
Người yêu cầu nên chuẩn bị đầy đủ tài liệu để chứng minh nghĩa vụ và số tiền còn thiếu, chẳng hạn:
- Bản án hoặc quyết định của Tòa án về cấp dưỡng;
- Quyết định thi hành án nếu đã từng yêu cầu thi hành;
- Thỏa thuận cấp dưỡng giữa các bên nếu có;
- Giấy tờ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con;
- Sao kê tài khoản ngân hàng;
- Giấy biên nhận hoặc chứng từ nhận tiền;
- Tin nhắn, email hoặc tài liệu thể hiện việc yêu cầu cấp dưỡng;
- Tài liệu chứng minh người phải cấp dưỡng có nghĩa vụ nhưng không thực hiện;
- Tài liệu chứng minh lý do không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn nếu có.
Việc tập hợp chứng cứ đặc biệt quan trọng khi hai bên có cách trình bày khác nhau về việc “không nhận tiền” hay “không trả tiền”.
>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!
Kết luận
Không nhận tiền cấp dưỡng nhiều năm có thể vẫn được yêu cầu thanh toán các khoản chưa thực hiện, nhưng không phải trường hợp nào cũng được truy lĩnh toàn bộ số tiền của những năm trước. Nếu đã có bản án, quyết định buộc cấp dưỡng và người phải cấp dưỡng không thực hiện, người được thi hành án có thể yêu cầu thi hành phần nghĩa vụ còn thiếu. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ, thời hiệu yêu cầu thi hành án được tính riêng đối với từng kỳ kể từ khi nghĩa vụ của kỳ đó đến hạn.
Nếu trước đây người trực tiếp nuôi con tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng hoặc hai bên có thỏa thuận khác thì việc yêu cầu truy lĩnh cần được xem xét riêng, không thể mặc nhiên lấy mức cấp dưỡng hiện tại để tính cho toàn bộ thời gian đã qua. Vì vậy, khi cần truy lĩnh cấp dưỡng nhiều năm, nên kiểm tra bản án, thỏa thuận, lịch sử thanh toán và thời điểm từng khoản đến hạn để xác định chính xác số tiền còn có thể yêu cầu.
