Làm giả mã QR của sản phẩm để bán hàng giả bị xử lý hình sự không?

Mã QR trên bao bì ngày càng được sử dụng để cung cấp thông tin về nguồn gốc, xuất xứ, nhà sản xuất và truy xuất sản phẩm. Vì vậy, việc làm giả mã QR của sản phẩm để gắn lên hàng giả rồi đưa ra thị trường không chỉ là hành vi gian dối với người tiêu dùng mà trong một số trường hợp còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, không phải cứ tạo một mã QR giả là đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan có thẩm quyền còn phải xem xét mã QR giả được sử dụng như thế nào, hàng hóa có phải hàng giả hay không, giá trị tương đương của hàng giả, số tiền thu lợi, hậu quả gây ra và mục đích của người thực hiện. Dưới đây là những trường hợp cần đặc biệt lưu ý.

Làm giả mã QR của sản phẩm có phải là làm hàng giả không?

Mã QR bản thân nó là một dạng mã dùng để chứa hoặc dẫn đến thông tin. Vì vậy, cần phân biệt việc tạo mã QR giả với việc sử dụng mã QR giả để biến hàng hóa thành hàng giả hoặc đánh lừa khách hàng.

Theo quy định về hàng giả, hàng hóa có nhãn hoặc bao bì ghi chỉ dẫn giả mạo về tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, phân phối; giả mạo mã số mã vạch; giả mạo nguồn gốc, xuất xứ hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp có thể được xác định là hàng giả. Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả cũng thuộc nhóm trường hợp được xem xét là hàng giả.

Do đó, nếu người bán tạo mã QR giả để khi khách hàng quét mã sẽ hiển thị thông tin giả về nguồn gốc, nhà sản xuất hoặc sản phẩm, sau đó sử dụng mã này trên hàng hóa giả để đưa hàng ra thị trường, hành vi có thể được xem xét trong tổng thể hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả.

Đặc biệt, nếu mã QR được sử dụng như một loại tem truy xuất nguồn gốc giả, việc làm giả không còn đơn thuần là thao tác kỹ thuật mà có thể trở thành một phương thức thực hiện hành vi gian dối trong hoạt động kinh doanh.

Làm giả mã QR để bán hàng giả có thể bị truy cứu hình sự

Trường hợp người thực hiện làm giả mã QR, gắn lên sản phẩm giả rồi đưa hàng hóa ra thị trường, tội danh cần xem xét trước hết là Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192 Bộ luật Hình sự nếu hàng hóa thuộc phạm vi của điều luật này.

Theo quy định hiện hành tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH, Điều 192 áp dụng đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả trong những trường hợp luật định và không thuộc các nhóm hàng giả đặc thù được quy định tại Điều 193, 194 và 195.

Khi nào hành vi bán hàng giả bị xử lý hình sự?

Một trong những trường hợp tại khoản 1 Điều 192 là hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng có trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng; hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng người thực hiện đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi liên quan hoặc đã bị kết án về một số tội tương ứng mà chưa được xóa án tích. Ngoài ra, trách nhiệm hình sự còn có thể phát sinh dựa trên mức thu lợi bất chính hoặc hậu quả về sức khỏe, tài sản theo điều luật.

Theo quy định hiện hành, khoản 1 Điều 192 có thể áp dụng phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 2 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Các khung hình phạt cao hơn được áp dụng tùy thuộc vào tính chất, quy mô và hậu quả của hành vi.

Như vậy, việc làm giả mã QR có thể trở thành một trong những thủ đoạn được sử dụng để sản xuất, buôn bán hàng giả. Tuy nhiên, không phải bản thân mã QR giả là căn cứ duy nhất để kết luận người thực hiện phạm tội theo Điều 192.

Hình phạt có thể tăng khi hành vi có quy mô lớn

Nếu hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức hoặc hàng giả đạt các ngưỡng giá trị, thu lợi bất chính, thiệt hại về tài sản theo luật định thì có thể thuộc khung hình phạt cao hơn.

Đối với trường hợp nghiêm trọng nhất được quy định tại Điều 192, người phạm tội có thể bị phạt tù đến 15 năm. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định.

Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Không nên hiểu rằng cứ quét được mã QR hoặc mã QR dẫn đến một website có thông tin giả thì người tạo mã chắc chắn bị xử lý hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định mục đích sử dụng, nội dung gian dối, loại hàng hóa, giá trị hàng giả, số tiền thu lợi và các yếu tố cấu thành tội phạm trong vụ việc cụ thể.

Nếu sản phẩm là thực phẩm, thuốc hoặc hàng hóa đặc thù thì sao?

Không phải mọi loại hàng giả đều được xử lý theo Điều 192.

Bộ luật Hình sự quy định riêng một số nhóm hàng hóa có tính chất đặc biệt, trong đó có hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm tại Điều 193; hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh tại Điều 194; và một số hàng giả đặc thù khác tại Điều 195.

Chẳng hạn, đối với hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, khoản 1 Điều 193 quy định người sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc nhóm này có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. Các trường hợp có tổ chức, chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, buôn bán qua biên giới, đạt ngưỡng giá trị hoặc thu lợi bất chính nhất định có thể bị áp dụng khung hình phạt cao hơn.

Vì vậy, nếu một người làm giả mã QR rồi gắn mã này lên thực phẩm giả để tạo niềm tin cho người mua, việc xác định tội danh không nên chỉ dừng ở việc “làm giả QR” mà phải xem xét toàn bộ hành vi sản xuất, buôn bán loại hàng giả đó.

Làm giả mã QR để lừa người mua có thể bị xử lý về tội lừa dối khách hàng không?

Ngoài tội sản xuất, buôn bán hàng giả, trong một số trường hợp còn cần xem xét Tội lừa dối khách hàng theo Điều 198 Bộ luật Hình sự.

Điều 198 quy định người trong hoạt động mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ dùng thủ đoạn gian dối khác thuộc các trường hợp luật định có thể bị xử lý hình sự. Khoản 1 quy định hình phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm khi đã từng bị xử phạt hoặc kết án về hành vi này mà còn vi phạm, hoặc thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.

Nếu có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Việc sử dụng mã QR giả để khiến khách hàng tin rằng sản phẩm có nguồn gốc chính hãng, có thể truy xuất hoặc được xác nhận bởi một chủ thể nhất định có thể là một thủ đoạn gian dối. Tuy nhiên, khi hàng hóa đồng thời là hàng giả, cơ quan tố tụng sẽ phải xác định chính xác tội danh và quan hệ giữa các hành vi, thay vì mặc nhiên áp dụng Điều 198 trong mọi trường hợp.

Có bị xử lý về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức không?

Không phải trường hợp nào làm giả mã QR cũng cấu thành Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Điều 341 điều chỉnh hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng những tài liệu, giấy tờ giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật. Khoản 1 hiện quy định mức phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

Vì vậy, nếu mã QR chỉ là mã truy xuất được người bán tự tạo và gắn lên sản phẩm thì không nên mặc nhiên coi đó là tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

Ngược lại, nếu QR được sử dụng như một phần của tài liệu, giấy tờ hoặc thông tin xác nhận giả do cơ quan, tổ chức phát hành và hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 341 thì tội danh này có thể được đặt ra. Việc xác định phải dựa trên bản chất của đối tượng bị làm giả và mục đích sử dụng.

Làm giả QR nhưng chưa bán được hàng có bị xử lý hình sự không?

Việc chưa bán được hàng không đồng nghĩa chắc chắn không bị xử lý hình sự.

Cần xác định người thực hiện đã sản xuất hàng giả đến giai đoạn nào, đã chuẩn bị mã QR để làm gì, đã tạo ra hàng giả hay mới chỉ chuẩn bị công cụ, phương tiện và có thực hiện các hành vi khác hay chưa.

Ví dụ, A mua hàng hóa giá rẻ không chính hãng, thiết kế mã QR giả mang thông tin của một thương hiệu nổi tiếng và in hàng nghìn tem QR để dán lên sản phẩm. Nếu A đã thực hiện các hành vi sản xuất hàng giả và đáp ứng dấu hiệu cấu thành tội phạm thì việc chưa bán được toàn bộ số hàng không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự.

Ngược lại, nếu mới chỉ thiết kế một mã QR mà chưa có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc chưa đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì cần đánh giá theo giai đoạn thực hiện hành vi và quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự.

Ví dụ về làm giả mã QR để bán hàng giả

Trường hợp 1: Hàng giả kèm mã QR giả

A nhập một số lượng lớn sản phẩm giả, sau đó tự tạo mã QR dẫn đến website có thông tin giả mạo thương hiệu chính hãng. A in mã QR thành tem truy xuất và dán lên sản phẩm trước khi bán cho khách hàng.

Trong trường hợp này, mã QR giả là phương thức hỗ trợ hành vi đưa hàng giả ra thị trường. Nếu hàng hóa và hành vi đáp ứng các điều kiện của Điều 192 thì A có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

Trường hợp 2: Hàng thật nhưng QR giả

B bán sản phẩm thật nhưng cố tình tạo QR giả để khách hàng tin rằng sản phẩm được sản xuất hoặc phân phối bởi một doanh nghiệp khác.

Trong tình huống này, cần xem xét bản chất hàng hóa và hành vi gian dối. Không thể chỉ dựa vào việc “QR giả” để kết luận B phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192. Tùy trường hợp, hành vi có thể được xem xét dưới góc độ lừa dối khách hàng, vi phạm về nhãn hàng hóa hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Trường hợp 3: QR giả mạo nhãn hiệu của doanh nghiệp

Nếu QR được đặt cùng dấu hiệu nhận diện của thương hiệu khác trên hàng hóa, cần xem xét thêm khả năng hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành xác định hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa hoặc bao bì có gắn dấu hiệu, tem, nhãn trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu.

Do đó, ngoài vấn đề hàng giả theo pháp luật thương mại và hình sự, vụ việc còn có thể phát sinh trách nhiệm liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nếu có đủ căn cứ.

Người làm giả mã QR cần lưu ý gì?

Khi xác định trách nhiệm pháp lý, cơ quan có thẩm quyền thường cần làm rõ nhiều yếu tố như:

  • Mã QR được tạo ra để chứa thông tin gì;
  • Thông tin trong mã có giả mạo nguồn gốc, xuất xứ hoặc thương hiệu hay không;
  • QR được in trên sản phẩm, tem, nhãn hay tài liệu nào;
  • Sản phẩm được gắn QR có phải hàng giả hay không;
  • Giá trị tương đương của số lượng hàng giả;
  • Số tiền thu lợi bất chính;
  • Số lượng sản phẩm đã sản xuất, đã bán;
  • Người thực hiện có biết rõ tính chất giả của hàng hóa hay không;
  • Có tổ chức, phân công người thiết kế QR, đóng gói, vận chuyển hoặc bán hàng hay không;
  • Có gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe cho người tiêu dùng hay không.

Đây cũng là lý do không nên chỉ nhìn vào số lượng mã QR được tạo ra để xác định mức độ trách nhiệm hình sự. Trong các vụ án về hàng giả, cơ quan tố tụng còn xem xét giá trị hàng giả, số tiền thu lợi và hậu quả của hành vi. Cơ quan quản lý thị trường cũng lưu ý các tiêu chí này khi phân biệt hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có dấu hiệu tội phạm với vi phạm hành chính.

>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!

Đặt lịch tư vấn

Kết luận

Làm giả mã QR của sản phẩm để bán hàng giả có thể bị xử lý hình sự nếu hành vi thực tế đáp ứng các dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc tội danh khác theo Bộ luật Hình sự. Đối với hàng hóa thông thường, Điều 192 là quy định cần xem xét; nếu là thực phẩm, thuốc hoặc một số loại hàng hóa đặc thù thì có thể áp dụng điều luật riêng. Việc tạo QR giả chỉ là một trong những hành vi cần được đánh giá trong toàn bộ quá trình sản xuất, đóng gói và đưa hàng hóa ra thị trường.

Trường hợp QR giả được dùng để làm sai lệch thông tin về nguồn gốc, thương hiệu hoặc chất lượng sản phẩm, vụ việc còn có thể liên quan đến hành vi lừa dối khách hàng hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, để xác định chính xác tội danh và mức xử lý, cần đối chiếu loại hàng hóa, giá trị hàng giả, số tiền thu lợi, cách thức sử dụng mã QR và hậu quả thực tế của hành vi.

Chat Zalo
Đặt Lịch

    PHIẾU ĐẶT LỊCH

    Vui lòng điền thông tin liên hệ và lựa chọn Hình thức tư vấn phù hợp với yêu cầu của bạn.






    Bạn vui lòng quét mã để thanh toán phí tư vấn và nhấn Đặt lịch tư vấn. Lưu ý: Lịch tư vấn chỉ được xác nhận khi thanh toán thành công. Trong vòng 05 phút, chúng tôi sẽ liên hệ để xác nhận và kết nối bạn với đội ngũ luật sư.


    Luật sư tư vấn trực tiếp

    Luật sư tư vấn Online

    Bạn cần thanh toán trước khi gửi phiếu đặt lịch