Trong hoạt động của doanh nghiệp, giám đốc thường là người đại diện theo pháp luật và có thể thực hiện việc ký hóa đơn theo quy trình nội bộ. Tuy nhiên, nếu kế toán đề nghị ký hóa đơn khống, tức hóa đơn thể hiện giao dịch mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không có thật, việc giám đốc ký và cho phép sử dụng hóa đơn này có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý.
Đáng chú ý, trách nhiệm hình sự không được xác định chỉ dựa vào chức danh giám đốc hoặc việc người này trực tiếp ký hóa đơn. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ giám đốc có biết hóa đơn khống, có cố ý thực hiện hoặc giúp sức hay không, hóa đơn được sử dụng nhằm mục đích gì, số tiền thuế bị trốn hoặc số lượng hóa đơn liên quan là bao nhiêu. Tùy tình huống, vụ việc có thể được xem xét về tội trốn thuế hoặc tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ.
Hóa đơn khống là gì?
Hóa đơn khống là hóa đơn được lập để thể hiện một giao dịch mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không có thật toàn bộ hoặc một phần, hoặc hóa đơn phản ánh không đúng giá trị thực tế phát sinh.
Quy định hiện hành về hóa đơn xác định việc sử dụng hóa đơn khống, hóa đơn phản ánh không đúng giá trị thực tế phát sinh hoặc lập hóa đơn khống là hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ.
Ví dụ, doanh nghiệp không mua bất kỳ hàng hóa nào của Công ty A nhưng vẫn lập hóa đơn thể hiện đã mua hàng trị giá 500 triệu đồng. Nếu hóa đơn này được sử dụng để đưa vào sổ sách, kê khai thuế hoặc hợp thức hóa một giao dịch không có thật thì đây có thể là hóa đơn khống.
Cần phân biệt hóa đơn khống với trường hợp hóa đơn có sai sót về thông tin như tên, địa chỉ, mã số thuế hoặc một số nội dung bắt buộc. Không phải mọi sai sót trên hóa đơn đều đồng nghĩa với việc lập hóa đơn khống.
Giám đốc ký hóa đơn khống theo yêu cầu của kế toán có phạm tội không?
Có thể có, nếu giám đốc biết rõ hóa đơn là khống nhưng vẫn cố ý ký và cho phép sử dụng.
Việc kế toán là người đề nghị hoặc trực tiếp lập hóa đơn không làm mất trách nhiệm của giám đốc nếu giám đốc biết mục đích và tính chất của giao dịch nhưng vẫn tham gia.
Ngược lại, nếu giám đốc thực sự không biết giao dịch là giả, không biết hóa đơn có nội dung khống và không có ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội thì không thể chỉ căn cứ vào chữ ký để mặc nhiên kết luận người này phạm tội.
Do đó, trong vụ việc thực tế, các yếu tố như email trao đổi, tin nhắn, chỉ đạo nội bộ, chứng từ kế toán, hợp đồng, hồ sơ giao nhận hàng hóa, dòng tiền và lời khai của những người liên quan có thể được sử dụng để xác định nhận thức và vai trò của từng người.
“Ký theo yêu cầu của kế toán” có phải là lý do được miễn trách nhiệm?
Không đương nhiên.
Nếu giám đốc biết kế toán đang lập hóa đơn cho một giao dịch không tồn tại nhưng vẫn ký vì muốn doanh nghiệp hợp thức hóa chi phí hoặc giảm nghĩa vụ thuế thì việc ký hóa đơn có thể được xem xét là hành vi cố ý tham gia vào quá trình vi phạm.
Trong trường hợp có từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm, cần xem xét quy định về đồng phạm và vai trò cụ thể của từng người. Người giúp sức, người tổ chức, người thực hành hoặc người xúi giục có thể chịu trách nhiệm tương ứng với hành vi và mức độ tham gia của mình.
Vì vậy, kế toán là người đề xuất lập hóa đơn còn giám đốc là người ký không có nghĩa chỉ kế toán chịu trách nhiệm.
Lưu ý từ Luật sư Nguyễn Văn Hùng: Khi đánh giá trách nhiệm của giám đốc, không nên chỉ nhìn vào chữ ký trên hóa đơn. Điểm quan trọng là phải xác định giám đốc có biết giao dịch không có thật hay không, có mục đích sử dụng hóa đơn khống để vi phạm pháp luật hay không và hành vi ký hóa đơn có góp phần thực hiện tội phạm hay không.
Giám đốc có thể bị xử lý về tội trốn thuế không?
Một trong những khả năng cần xem xét là Tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Điều 200 quy định một trong những hành vi có thể cấu thành tội trốn thuế là sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm, khấu trừ hoặc hoàn.
Theo quy định hiện hành, người thực hiện hành vi trốn thuế với số tiền từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định như đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về một số tội liên quan mà chưa được xóa án tích, có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Nếu có các tình tiết như có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc số tiền trốn thuế lớn hơn thì mức hình phạt có thể tăng theo các khung tương ứng của Điều 200.
Như vậy, nếu giám đốc biết hóa đơn là khống và ký để doanh nghiệp đưa khoản chi phí không có thật vào hồ sơ kế toán nhằm giảm số thuế phải nộp, trách nhiệm về tội trốn thuế có thể được đặt ra nếu các dấu hiệu cấu thành tội phạm được đáp ứng.
Giám đốc ký hóa đơn khống có thể bị xử lý về tội mua bán trái phép hóa đơn không?
Không phải cứ ký hóa đơn khống là đương nhiên phạm Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước theo Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Điều 203 điều chỉnh hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Khoản 1 quy định trường hợp hóa đơn đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, cùng các trường hợp luật định khác, có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Nếu có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, số lượng hóa đơn lớn, thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước từ 100 triệu đồng trở lên hoặc thuộc các trường hợp khác tại khoản 2 thì mức hình phạt có thể từ 01 năm đến 05 năm tù.
Do đó, cần xác định chính xác hành vi của giám đốc là sử dụng hóa đơn khống để trốn thuế, hay có thêm hành vi phát hành, mua bán hóa đơn trái phép hoặc tham gia vào đường dây mua bán hóa đơn.
Giám đốc không trực tiếp lập hóa đơn thì có chịu trách nhiệm không?
Có thể.
Trách nhiệm hình sự không chỉ đặt ra đối với người trực tiếp thao tác trên phần mềm hoặc người trực tiếp nhập dữ liệu hóa đơn.
Ví dụ:
- Kế toán là người lập hóa đơn trên hệ thống;
- Kế toán biết giao dịch không có thật;
- Kế toán đề nghị giám đốc ký;
- Giám đốc biết rõ không có giao dịch nhưng vẫn ký;
- Sau đó doanh nghiệp sử dụng hóa đơn để hạch toán chi phí không có thật và giảm số thuế phải nộp.
Trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét vai trò của cả kế toán và giám đốc, thay vì chỉ xác định người nhập dữ liệu hóa đơn là người chịu trách nhiệm.
Ngược lại, nếu giám đốc ký trong điều kiện không biết giao dịch là khống và không có căn cứ chứng minh người này cố ý tham gia thì việc chỉ dựa vào chữ ký để xử lý hình sự là chưa đủ.
Nếu giám đốc chỉ ký một hóa đơn khống thì sao?
Số lượng hóa đơn là một trong những yếu tố cần xem xét nhưng một hóa đơn khống không đồng nghĩa đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cơ quan có thẩm quyền còn phải xác định:
- Giao dịch có thực sự không tồn tại hay không;
- Hóa đơn được lập nhằm mục đích gì;
- Có làm giảm số thuế phải nộp hay không;
- Số tiền thuế bị trốn là bao nhiêu;
- Có thu lợi bất chính hay không;
- Có mua bán, phát hành hóa đơn trái phép hay không;
- Người ký có biết hóa đơn khống hay không;
- Có sự câu kết giữa giám đốc, kế toán và những người khác hay không.
Nếu chưa đạt ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, hành vi có thể bị xử lý theo pháp luật về thuế và hóa đơn. Quy định xử phạt hiện hành cũng xác định hóa đơn khống là một dạng sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ và có thể bị xử phạt hành chính trong trường hợp chưa đến mức truy cứu hình sự.
Trường hợp giám đốc không biết hóa đơn là khống
Đây là tình huống cần được phân tích riêng.
Ví dụ, kế toán tự ý lập hóa đơn khống, đưa cho giám đốc ký và nói rằng đây là hóa đơn của giao dịch thực tế. Giám đốc ký nhưng thực sự không biết giao dịch không tồn tại.
Nếu không có căn cứ chứng minh giám đốc biết và cố ý tham gia thì không thể chỉ từ việc giám đốc ký hóa đơn mà kết luận người này phạm tội.
Tuy nhiên, nếu hồ sơ vụ án thể hiện giám đốc biết rõ không có hàng hóa, không có dịch vụ nhưng vẫn yêu cầu kế toán lập hóa đơn, hoặc biết mục đích là đưa chi phí khống vào sổ sách để giảm thuế thì tình huống pháp lý sẽ khác.
Ví dụ thực tế về giám đốc ký hóa đơn khống
Trường hợp 1: Giám đốc biết rõ nhưng vẫn ký
Công ty A không mua nguyên vật liệu nhưng kế toán đề nghị lập hóa đơn trị giá 1 tỷ đồng để đưa vào chi phí. Giám đốc biết rõ không có giao dịch nhưng vẫn ký và chỉ đạo kế toán hạch toán hóa đơn.
Nếu việc sử dụng hóa đơn làm giảm số thuế phải nộp và số tiền trốn thuế đạt ngưỡng luật định, giám đốc có thể bị xem xét trách nhiệm về tội trốn thuế.
Trường hợp 2: Kế toán tự ý lập hóa đơn, giám đốc không biết
Kế toán tự lập hóa đơn khống, sau đó đưa cho giám đốc ký và che giấu thông tin về giao dịch. Giám đốc ký do tin rằng hồ sơ phản ánh giao dịch thực tế và không biết hóa đơn là khống.
Trong trường hợp này, cần chứng minh nhận thức và ý chí của giám đốc. Nếu không có căn cứ chứng minh giám đốc biết và cố ý tham gia thì không thể chỉ dựa vào chữ ký để xác định trách nhiệm hình sự.
Trường hợp 3: Giám đốc và kế toán cùng mua bán hóa đơn
Giám đốc biết doanh nghiệp không có giao dịch thực tế nhưng chỉ đạo kế toán mua hóa đơn của doanh nghiệp khác để hợp thức hóa chi phí, đồng thời hai bên hưởng lợi từ việc mua bán hóa đơn.
Tùy hành vi cụ thể, số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi và thiệt hại cho ngân sách, vụ việc có thể được xem xét theo Điều 203 về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn hoặc Điều 200 về tội trốn thuế nếu có đủ dấu hiệu tương ứng.
Giám đốc cần chịu trách nhiệm đến đâu?
Việc xác định trách nhiệm của giám đốc phải dựa trên vai trò thực tế và lỗi của người này, không chỉ dựa vào chức danh.
Nếu giám đốc là người chỉ đạo lập hóa đơn khống, quyết định sử dụng hóa đơn và biết rõ mục đích vi phạm, vai trò có thể nghiêm trọng hơn trường hợp chỉ thực hiện một hành vi hỗ trợ mà không quyết định toàn bộ kế hoạch.
Ngược lại, nếu giám đốc không biết giao dịch là giả, không được hưởng lợi và không có ý chí tham gia hành vi phạm tội thì cần phân biệt với trường hợp cố ý đồng phạm.
Do đó, trong quá trình điều tra, các tài liệu như hợp đồng, phiếu nhập xuất kho, chứng từ thanh toán, hồ sơ giao nhận, email, tin nhắn, dữ liệu kế toán và lịch sử phê duyệt hóa đơn có thể có ý nghĩa trong việc xác định ai là người chỉ đạo, ai lập hóa đơn và ai biết về giao dịch không có thật.
>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!
Kết luận
Giám đốc ký hóa đơn khống theo yêu cầu của kế toán có thể bị xử lý hình sự, nhưng không phải cứ là người ký hóa đơn thì đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự. Yếu tố quan trọng là giám đốc có biết hóa đơn phản ánh giao dịch không có thật và có cố ý tham gia vào hành vi vi phạm hay không. Nếu hóa đơn khống được sử dụng nhằm làm giảm số thuế phải nộp và đạt ngưỡng luật định, hành vi có thể bị xem xét về tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Nếu hành vi liên quan đến việc phát hành, mua bán trái phép hóa đơn với số lượng hoặc giá trị đạt ngưỡng luật định, Điều 203 Bộ luật Hình sự cũng có thể được xem xét. Trường hợp chưa đủ dấu hiệu truy cứu hình sự, doanh nghiệp và cá nhân liên quan vẫn có thể bị xử phạt về vi phạm trong quản lý, sử dụng hóa đơn, đồng thời phải xử lý các hậu quả về thuế theo quy định.
