Sự phát triển của giao dịch trực tuyến giúp việc ký kết hợp đồng, mua bán hàng hóa và chuyển giao tài sản trở nên thuận tiện hơn. Tuy nhiên, nếu một người cố ý sử dụng danh tính của người đã mất để ký hợp đồng điện tử, giả mạo sự đồng ý của người đó rồi nhận tiền hoặc tài sản từ đối tác, hành vi có thể xâm phạm quyền sở hữu tài sản và làm ảnh hưởng đến tính xác thực của giao dịch điện tử.
Vậy sử dụng danh tính của người đã mất để ký kết hợp đồng điện tử và nhận tài sản có thể bị truy cứu về tội gì? Tùy phương thức thực hiện, mục đích chiếm đoạt và chứng cứ thu thập được, người vi phạm có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, hoặc tội danh khác nếu đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành. Bài viết dưới đây phân tích các trường hợp pháp lý cần lưu ý.
Dùng danh tính người đã mất để ký hợp đồng điện tử có vi phạm pháp luật không?
Có thể vi phạm pháp luật, đặc biệt khi người thực hiện cố tình giả danh người đã mất để tạo niềm tin cho đối tác, xác lập giao dịch trái phép hoặc chiếm đoạt tài sản.
Theo Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2024, pháp luật nghiêm cấm các hành vi gian lận, giả mạo, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái pháp luật tài khoản giao dịch điện tử, chứng thư điện tử, chứng thư chữ ký điện tử và chữ ký điện tử. Luật cũng nghiêm cấm việc giả mạo, làm sai lệch hoặc sử dụng trái pháp luật thông điệp dữ liệu.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc sử dụng thông tin của người đã mất và hành vi giả mạo nhằm chiếm đoạt tài sản. Việc một người có thông tin cá nhân của người đã mất không tự động đồng nghĩa với việc họ phạm tội. Cơ quan có thẩm quyền cần xác định cách thức sử dụng danh tính, việc giả mạo ý chí của người đã mất, mục đích thực hiện và hậu quả cụ thể.
Ví dụ, A biết B đã qua đời nhưng vẫn sử dụng thông tin định danh của B để tạo tài khoản giao dịch, ký hợp đồng điện tử với C và yêu cầu C giao hàng. Nếu A cố tình đưa ra thông tin gian dối để C tin rằng hợp đồng được xác lập hợp pháp rồi giao tài sản cho A, hành vi có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu đủ yếu tố cấu thành.
Những tội danh có thể bị truy cứu khi sử dụng danh tính người đã mất
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự
Đây là tội danh cần xem xét trước tiên nếu người thực hiện sử dụng danh tính của người đã mất làm thủ đoạn gian dối để nhận và chiếm đoạt tài sản.
Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Các khoản tiếp theo quy định những khung hình phạt nặng hơn căn cứ vào giá trị tài sản và tình tiết định khung.
Để xác định hành vi có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, cần làm rõ các yếu tố cơ bản:
- Thủ đoạn gian dối: Người thực hiện cố tình dùng danh tính của người đã mất, giả mạo thông tin định danh hoặc thể hiện sai sự thật về chủ thể giao kết hợp đồng.
- Ý định chiếm đoạt: Người thực hiện có mục đích chiếm đoạt tài sản, không đơn thuần là sai sót trong thủ tục giao dịch.
- Hành vi giao tài sản: Thủ đoạn gian dối khiến bên có tài sản tin tưởng và giao tài sản cho người thực hiện.
- Giá trị tài sản và các điều kiện luật định: Đây là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự và khung hình phạt.
Chẳng hạn, A sử dụng thông tin của người thân đã mất để ký hợp đồng điện tử mua hàng trả chậm. Ngay từ đầu, A đã có ý định gian dối, không có căn cứ hợp pháp để đại diện cho người đã mất và sử dụng thông tin đó nhằm khiến bên bán giao hàng. Nếu A chiếm đoạt tài sản và hành vi đáp ứng các dấu hiệu của Điều 174, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điểm cần lưu ý là việc hợp đồng không hợp lệ hoặc không được thực hiện đúng không tự động cấu thành tội lừa đảo. Phải có căn cứ chứng minh thủ đoạn gian dối, ý thức chiếm đoạt và các dấu hiệu khác theo quy định hình sự.
Tội làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341
Nếu người thực hiện làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để chứng minh danh tính, tư cách đại diện hoặc điều kiện giao kết hợp đồng, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Ví dụ, A sử dụng thông tin của người đã mất, đồng thời làm giả giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để chứng minh mình là người đó hoặc có quyền thực hiện giao dịch. Nếu tài liệu được làm giả hoặc sử dụng thuộc phạm vi Điều 341 và đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp giả danh người đã mất đều cấu thành tội theo Điều 341. Cần xác định có hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức, hoặc sử dụng những tài liệu giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật hay không.
Nếu hành vi vừa đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vừa đủ yếu tố cấu thành tội theo Điều 341, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét trách nhiệm về cả hai tội theo quy định. Việc áp dụng cụ thể phải căn cứ vào hành vi thực tế và chứng cứ của vụ án.
Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290
Trong một số trường hợp, người thực hiện có thể bị xem xét về Điều 290 Bộ luật Hình sự nếu sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện một trong những hành vi chiếm đoạt tài sản được điều luật quy định và hành vi không thuộc trường hợp xử lý theo Điều 173 hoặc Điều 174.
Điều 290 đề cập đến những phương thức cụ thể như sử dụng trái phép thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng để chiếm đoạt tài sản; truy cập bất hợp pháp vào tài khoản nhằm chiếm đoạt; hoặc thực hiện một số hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử và các lĩnh vực được quy định.
Do đó, việc ký hợp đồng qua mạng không đồng nghĩa đương nhiên áp dụng Điều 290. Nếu bản chất hành vi là dùng thủ đoạn gian dối để bên giao dịch giao tài sản, cần đánh giá trước khả năng cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174. Điều 290 chỉ được áp dụng khi phương thức thực hiện và các dấu hiệu pháp lý phù hợp với điều luật.
Người dùng danh tính người đã mất có bị phạt tù bao nhiêu năm?
Mức hình phạt phụ thuộc vào tội danh được xác định, giá trị tài sản và những tình tiết liên quan. Có thể tham khảo các trường hợp sau:
| Tội danh | Khung hình phạt đáng chú ý |
|---|---|
| Lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Điều 174 | Khung cơ bản: cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc tù từ 6 tháng đến 3 năm; các khung tăng nặng có thể lên đến tù chung thân |
| Làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả – Điều 341 | Tùy hành vi, mức độ và tình tiết định khung; cần xác định tài liệu có thuộc phạm vi điều luật hay không |
| Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản – Điều 290 | Khung cơ bản: cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc tù từ 6 tháng đến 3 năm; khung cao nhất có thể lên đến 20 năm tù |
Các mức hình phạt trên là khung luật định, không phải mức án mặc định cho mọi trường hợp. Việc xác định hình phạt phải dựa vào tội danh, giá trị tài sản, vai trò của người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các quy định áp dụng đối với vụ án cụ thể.
Luật sư Nguyễn Văn Hùng lưu ý: Khi đánh giá một vụ việc sử dụng danh tính người đã mất để ký hợp đồng điện tử, cần kiểm tra cả dữ liệu xác thực giao dịch, phương thức ký, tài khoản sử dụng, chứng thư chữ ký điện tử, nội dung hợp đồng và quá trình giao nhận tài sản. Những tài liệu này có thể giúp làm rõ ai thực sự thực hiện giao dịch, có hành vi giả mạo hay không và mục đích chiếm đoạt có tồn tại từ đầu hay không.
Hợp đồng điện tử ký bằng danh tính người đã mất có giá trị pháp lý không?
Không thể chỉ dựa vào việc hợp đồng được ký dưới tên người đã mất để kết luận hợp đồng có hiệu lực hoặc vô hiệu trong mọi trường hợp.
Theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023, chữ ký điện tử có vai trò xác nhận chủ thể ký và thể hiện sự chấp thuận đối với thông điệp dữ liệu. Tuy nhiên, việc giao dịch được thực hiện dưới dạng điện tử không loại bỏ yêu cầu về chủ thể có quyền giao kết, sự tự nguyện, điều kiện có hiệu lực của giao dịch và những quy định pháp luật liên quan.
Nếu người đã mất không thể trực tiếp thể hiện ý chí tại thời điểm giao kết mà người khác tự ý sử dụng danh tính của họ, cần xem xét tính xác thực của sự chấp thuận và căn cứ đại diện. Giao dịch có thể bị tranh chấp hoặc bị yêu cầu tuyên vô hiệu tùy tình tiết và quy định pháp luật áp dụng.
Trường hợp tài sản thuộc di sản của người đã mất, việc quản lý, định đoạt tài sản còn phải xem xét quyền của người thừa kế, người quản lý di sản hoặc người đại diện hợp pháp theo quy định. Không thể mặc nhiên cho rằng người biết thông tin tài khoản hoặc có thiết bị của người đã mất đương nhiên được quyền sử dụng danh tính của họ để giao kết hợp đồng.
Cần phân biệt hai vấn đề: hiệu lực của hợp đồng và trách nhiệm hình sự của người sử dụng danh tính. Một giao dịch có thể bị tranh chấp về hiệu lực nhưng chưa đủ căn cứ kết luận có tội phạm; ngược lại, việc sử dụng hợp đồng điện tử làm công cụ gian dối để chiếm đoạt tài sản có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành.
Ví dụ về hành vi sử dụng danh tính người đã mất để nhận tài sản
A biết B đã qua đời nhưng vẫn sử dụng thông tin cá nhân của B để đăng ký tài khoản giao dịch trực tuyến. Sau đó, A ký hợp đồng điện tử với doanh nghiệp C dưới danh nghĩa B và yêu cầu C giao một lô hàng có giá trị lớn. A không có quyền đại diện hợp pháp, đồng thời cố tình che giấu việc B đã mất để khiến C tin rằng hợp đồng được ký bởi đúng chủ thể.
Trong tình huống này, cơ quan có thẩm quyền cần xác minh ai đã tạo tài khoản, ai thực hiện thao tác ký, dữ liệu xác thực được sử dụng như thế nào, hàng hóa được giao cho ai và A có ý định chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu hay không.
Nếu có đủ căn cứ chứng minh A dùng thủ đoạn gian dối để khiến C giao tài sản rồi chiếm đoạt, A có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174. Nếu A còn làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi, trách nhiệm theo Điều 341 cũng có thể được đặt ra. Nếu phương thức chiếm đoạt thuộc phạm vi Điều 290 và không thuộc trường hợp loại trừ của điều luật, cơ quan có thẩm quyền sẽ đánh giá khả năng áp dụng tội danh này theo đúng quy định.
Ngược lại, nếu người thực hiện có căn cứ đại diện hợp pháp đối với một giao dịch liên quan đến di sản hoặc có tranh chấp dân sự về quyền định đoạt tài sản nhưng không có thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt, không thể chỉ dựa vào việc sử dụng thông tin của người đã mất để kết luận họ phạm tội hình sự.
Người bị hại cần làm gì khi phát hiện bị giả danh người đã mất để nhận tài sản?
Nếu phát hiện có người sử dụng danh tính của người đã mất để ký hợp đồng điện tử và nhận tài sản trái phép, cá nhân hoặc tổ chức bị ảnh hưởng nên:
Thứ nhất, bảo toàn chứng cứ giao dịch. Lưu hợp đồng điện tử, email xác nhận, dữ liệu chữ ký, nhật ký truy cập, thông tin tài khoản, chứng từ giao nhận và các trao đổi liên quan. Không nên tự ý chỉnh sửa dữ liệu gốc.
Thứ hai, thông báo cho bên cung cấp dịch vụ hoặc đối tác giao dịch. Đề nghị kiểm tra tính xác thực của tài khoản, tạm dừng giao dịch hoặc ngăn chặn việc tiếp tục giao tài sản nếu có căn cứ và còn khả năng thực hiện.
Thứ ba, xác minh tư cách chủ thể và quyền đại diện. Nếu giao dịch liên quan đến tài sản của người đã mất, cần kiểm tra giấy tờ chứng minh việc mất, hồ sơ thừa kế và các tài liệu về quyền đại diện hoặc quản lý di sản có liên quan.
Thứ tư, trình báo cơ quan có thẩm quyền. Khi có dấu hiệu giả mạo danh tính để chiếm đoạt tài sản, làm giả giấy tờ hoặc sử dụng trái phép chữ ký điện tử, người bị ảnh hưởng nên cung cấp chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xác minh, xử lý.
Thứ năm, xem xét biện pháp bảo vệ quyền lợi dân sự. Tùy trường hợp, người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng, yêu cầu hoàn trả tài sản hoặc thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!
Kết luận
Sử dụng danh tính của người đã mất để ký kết hợp đồng điện tử và nhận tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự là hướng xem xét quan trọng nếu người thực hiện dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Tùy cách thức thực hiện, người vi phạm còn có thể bị xem xét về tội làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 hoặc tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 nếu đáp ứng các dấu hiệu luật định.
Tuy nhiên, không phải mọi giao dịch điện tử có sử dụng thông tin của người đã mất đều tự động cấu thành tội phạm. Cần xác định rõ quyền giao kết, căn cứ đại diện, phương thức xác thực, mục đích chiếm đoạt và hậu quả thực tế. Khi phát hiện dấu hiệu giả mạo để nhận tài sản, người bị ảnh hưởng nên nhanh chóng bảo toàn chứng cứ, yêu cầu kiểm tra giao dịch và trình báo cơ quan có thẩm quyền để được xem xét theo quy định pháp luật.
