Đang làm thủ tục ly hôn mà chồng chết là tình huống đặc biệt bởi quan hệ hôn nhân chưa chắc đã chấm dứt tại thời điểm hai bên nộp đơn hoặc Tòa án đang giải quyết vụ việc. Nhiều người cho rằng khi đã yêu cầu ly hôn thì vợ không còn quyền đối với tài sản của chồng, nhưng cách hiểu này không hoàn toàn chính xác.
Theo Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp vợ chồng đang xin ly hôn nhưng chưa được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu một bên chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản của người chết. Vì vậy, để xác định người vợ có được hưởng thừa kế hay không cần xem xét chính xác tình trạng pháp lý của việc ly hôn tại thời điểm người chồng qua đời.
Đang làm thủ tục ly hôn mà chồng chết, vợ có được hưởng thừa kế không?
Có. Nếu tại thời điểm người chồng chết, việc ly hôn chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì người vợ vẫn có quyền hưởng di sản của chồng.
Quy định này được ghi nhận trực tiếp tại khoản 2 Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, trường hợp vợ chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
Như vậy, việc:
- Hai vợ chồng đã nộp đơn ly hôn;
- Tòa án đã thụ lý vụ án;
- Hai bên đang hòa giải;
- Tòa án đang chuẩn bị xét xử;
- Tòa án đã tuyên án ly hôn nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật;
không làm mất quyền thừa kế của người vợ nếu người chồng chết trong khoảng thời gian đó.
Vì sao vợ vẫn được hưởng thừa kế?
Điểm quan trọng là thời điểm mở thừa kế và tình trạng quan hệ hôn nhân tại thời điểm người chồng chết.
Điều 655 Bộ luật Dân sự được thiết kế riêng để giải quyết trường hợp vợ chồng đang xin ly hôn nhưng một bên chết trước khi việc ly hôn có hiệu lực. Pháp luật không coi việc nộp đơn ly hôn hoặc việc Tòa án đang thụ lý vụ án là căn cứ làm chấm dứt ngay quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý.
Bên cạnh đó, Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình quy định hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết. Khi một bên chết, việc giải quyết tài sản và di sản được thực hiện theo Điều 66 của Luật này và các quy định của pháp luật về thừa kế.
Lưu ý từ Luật sư Đặng Quý Tiên: Không nên chỉ căn cứ vào ngày nộp đơn ly hôn để xác định quyền thừa kế. Khi giải quyết trường hợp cụ thể, cần kiểm tra bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực hay chưa tại đúng thời điểm người chồng qua đời.
Khi nào người vợ được hưởng thừa kế của chồng?
Người vợ được hưởng thừa kế nếu tại thời điểm chồng chết, việc ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật.
Có thể chia thành một số trường hợp thường gặp:
Hai vợ chồng mới nộp đơn ly hôn
Nếu người vợ đã nộp đơn ly hôn nhưng Tòa án chưa giải quyết và người chồng chết thì người vợ vẫn có quyền hưởng di sản của chồng theo Điều 655 Bộ luật Dân sự.
Việc đã có ý định chấm dứt hôn nhân không làm mất tư cách người vợ trong quan hệ thừa kế.
Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn
Trường hợp Tòa án đã thụ lý và đang giải quyết vụ án nhưng chưa có bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực thì người vợ vẫn được hưởng thừa kế nếu người chồng chết trong giai đoạn này.
Ví dụ, tháng 5/2026, người vợ nộp đơn ly hôn. Tháng 7/2026, Tòa án thụ lý vụ án. Tháng 9/2026, người chồng qua đời trong khi vụ án chưa được giải quyết.
Trong trường hợp này, người vợ vẫn có quyền hưởng di sản của chồng.
Tòa án đã tuyên ly hôn nhưng bản án chưa có hiệu lực
Đây cũng là trường hợp được Điều 655 Bộ luật Dân sự điều chỉnh.
Nếu Tòa án đã tuyên bản án ly hôn nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật tại thời điểm người chồng chết thì người vợ vẫn được thừa kế di sản theo quy định.
Điều này cho thấy “đã có bản án” không đồng nghĩa với “đã chấm dứt quyền thừa kế”. Cần xác định bản án hoặc quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật tại thời điểm mở thừa kế hay chưa.
Khi nào người vợ không được hưởng thừa kế với tư cách vợ?
Nếu trước thời điểm người chồng chết, bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật, thì quan hệ hôn nhân đã chấm dứt.
Khi đó, người phụ nữ không còn tư cách là vợ của người chết tại thời điểm mở thừa kế và không được hưởng di sản với tư cách người vợ.
Do đó, có thể hiểu đơn giản:
| Tình trạng ly hôn khi chồng chết | Quyền thừa kế của vợ |
|---|---|
| Chưa nộp đơn ly hôn | Có |
| Đã nộp đơn, Tòa án chưa giải quyết | Có |
| Tòa án đang giải quyết | Có |
| Đã tuyên ly hôn nhưng bản án chưa có hiệu lực | Có |
| Bản án/quyết định ly hôn đã có hiệu lực trước khi chồng chết | Không với tư cách vợ |
Cần lưu ý rằng bảng trên nói về quyền thừa kế với tư cách vợ. Trong một số trường hợp đặc biệt, một người đã ly hôn vẫn có thể có quyền đối với tài sản hoặc quyền thừa kế theo một căn cứ pháp lý khác, nếu đáp ứng điều kiện tương ứng.
Vợ được hưởng bao nhiêu di sản của chồng?
Không phải toàn bộ tài sản đứng tên chồng đều đương nhiên là di sản để chia cho những người thừa kế.
Trước tiên cần xác định tài sản chung của vợ chồng và phần tài sản thuộc về người chồng.
Theo Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình, khi một bên vợ hoặc chồng chết, nếu có yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác về chế độ tài sản. Phần tài sản của người chết sau đó được chia theo pháp luật về thừa kế.
Ví dụ:
Vợ chồng có một căn nhà trị giá 4 tỷ đồng và đây là tài sản chung của hai người.
Nếu không có thỏa thuận khác:
- Phần của người vợ trong tài sản chung: khoảng 2 tỷ đồng;
- Phần của người chồng: khoảng 2 tỷ đồng;
- Khoảng 2 tỷ đồng thuộc phần của người chồng mới được xác định để chia thừa kế.
Như vậy, người vợ có thể vừa có phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, vừa được hưởng phần di sản của người chồng với tư cách người thừa kế.
Vợ thuộc hàng thừa kế thứ mấy của chồng?
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm:
- Vợ;
- Chồng;
- Cha đẻ, mẹ đẻ;
- Cha nuôi, mẹ nuôi;
- Con đẻ, con nuôi của người chết.
Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau, nếu di sản được chia theo pháp luật.
Ví dụ, người chồng chết không để lại di chúc và có:
- Vợ;
- Một người con;
- Mẹ đẻ;
thì ba người này thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Sau khi xác định chính xác khối di sản của người chồng, phần di sản được chia cho những người cùng hàng theo quy định.
Do đó, người vợ không đương nhiên nhận toàn bộ tài sản của chồng chỉ vì hai người đang trong quá trình ly hôn.
Nếu chồng có di chúc thì vợ có được hưởng không?
Nếu người chồng để lại di chúc thì việc phân chia di sản trước hết được xem xét theo nội dung di chúc, nhưng vẫn phải kiểm tra các quy định về hiệu lực của di chúc và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Đặc biệt, trong một số trường hợp, người vợ có thể thuộc nhóm người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nếu đáp ứng điều kiện pháp luật quy định.
Vì vậy, việc chồng để lại di chúc không có nghĩa trong mọi trường hợp người vợ đang làm thủ tục ly hôn sẽ đương nhiên mất quyền hưởng di sản.
Đang ly hôn mà chồng chết thì thủ tục ly hôn được giải quyết thế nào?
Khi một bên trong vụ án ly hôn chết, quan hệ hôn nhân chấm dứt từ thời điểm người đó chết theo Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình. Khi đó, vấn đề còn lại có thể liên quan đến tài sản, di sản và quyền lợi của những người có liên quan.
Nếu giữa hai bên đang có tranh chấp về tài sản, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng và phần tài sản thuộc về người chồng có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định di sản.
Trong thực tế, hồ sơ có thể cần xem xét các giấy tờ như:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở;
- Giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản;
- Giấy đăng ký kết hôn;
- Bản án, quyết định hoặc hồ sơ của Tòa án về việc ly hôn;
- Di chúc nếu người chồng có lập di chúc;
- Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người chết và những người thừa kế.
Ví dụ cụ thể về trường hợp đang ly hôn thì chồng chết
Trường hợp 1: Chưa có bản án ly hôn
Anh A và chị B là vợ chồng. Hai người nộp đơn yêu cầu ly hôn nhưng Tòa án chưa xét xử thì anh A qua đời.
Theo Điều 655 Bộ luật Dân sự, chị B vẫn được hưởng di sản của anh A với tư cách người vợ.
Nếu anh A không để lại di chúc thì cần xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và chia di sản theo quy định pháp luật.
Trường hợp 2: Đã tuyên án nhưng bản án chưa có hiệu lực
Tòa án tuyên cho anh A và chị B ly hôn nhưng tại thời điểm anh A qua đời, bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp này, khoản 2 Điều 655 vẫn bảo vệ quyền thừa kế của người còn sống. Chị B vẫn có quyền hưởng di sản của anh A theo quy định.
Trường hợp 3: Ly hôn đã có hiệu lực trước khi chồng chết
Nếu bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật trước khi anh A chết thì quan hệ vợ chồng đã chấm dứt.
Chị B không còn là vợ của anh A tại thời điểm mở thừa kế nên không được hưởng di sản với tư cách người vợ.
Người vợ cần làm gì để bảo vệ quyền thừa kế?
Nếu người chồng chết trong thời gian hai bên đang làm thủ tục ly hôn, người vợ nên kiểm tra trước tiên tình trạng pháp lý của vụ án ly hôn tại thời điểm chồng chết.
Sau đó cần xác định:
- Bản án hoặc quyết định ly hôn đã được ban hành hay chưa;
- Nếu đã ban hành thì đã có hiệu lực pháp luật hay chưa;
- Tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng;
- Tài sản nào là tài sản riêng của người chồng;
- Người chồng có để lại di chúc hay không;
- Những ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất;
- Có nghĩa vụ tài sản nào của người chồng phải thanh toán trước khi chia di sản hay không.
Việc xác định đúng những vấn đề này giúp tránh nhầm lẫn giữa tài sản mà người vợ có quyền sở hữu của chính mình và phần di sản mà người vợ được hưởng từ chồng.
>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!
Kết luận
Đang làm thủ tục ly hôn mà chồng chết thì vợ vẫn có thể được hưởng thừa kế. Theo Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015, nếu hai vợ chồng đang xin ly hôn nhưng chưa được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, người còn sống vẫn được thừa kế di sản của người chết. Vì vậy, việc đã nộp đơn ly hôn hoặc Tòa án đang giải quyết vụ án không làm mất quyền thừa kế của người vợ.
Khi giải quyết di sản, cần phân biệt phần tài sản thuộc về người vợ trong khối tài sản chung với phần di sản của người chồng để lại. Sau đó mới xác định việc chia thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Nếu trường hợp thực tế có nhà đất, tài sản chung lớn, di chúc hoặc tranh chấp giữa những người thừa kế, cần đối chiếu hồ sơ cụ thể để xác định chính xác quyền và phần di sản mà người vợ có thể được hưởng.
