Tài khoản ngân hàng là công cụ được sử dụng phổ biến để nhận tiền, chuyển tiền và thực hiện các giao dịch thanh toán. Tuy nhiên, tình trạng một số cá nhân mở tài khoản rồi bán, cho thuê hoặc cho mượn tài khoản ngân hàng cho người khác đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi tài khoản bị sử dụng để lừa đảo hoặc thực hiện các giao dịch bất hợp pháp.
Vậy bán tài khoản ngân hàng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Người bán tài khoản có thể bị phạt bao nhiêu tiền, trường hợp nào có thể bị phạt tù và nếu tài khoản được sử dụng để lừa đảo thì người bán có phải chịu trách nhiệm hay không? Nội dung dưới đây sẽ giúp làm rõ vấn đề này.
Bán tài khoản ngân hàng có vi phạm pháp luật không?
Có. Pháp luật về thanh toán không dùng tiền mặt nghiêm cấm việc mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán, cũng như mua, bán thông tin tài khoản thanh toán.
Theo quy định tại Nghị định 52/2024/NĐ-CP, các hành vi như mở hoặc duy trì tài khoản thanh toán nặc danh, mạo danh; cung cấp thông tin không trung thực; mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán và mua, bán thông tin tài khoản thanh toán đều thuộc nhóm hành vi bị cấm.
Do đó, dù người bán chỉ cho rằng mình “bán tài khoản để kiếm thêm tiền” và không trực tiếp thực hiện giao dịch bằng tài khoản đó thì hành vi vẫn có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.
Đặc biệt, rủi ro sẽ nghiêm trọng hơn nếu người mua sử dụng tài khoản để nhận tiền lừa đảo, che giấu dòng tiền hoặc thực hiện các giao dịch phục vụ hoạt động phạm tội.
Bán tài khoản ngân hàng bị xử lý như thế nào?
Bán ít tài khoản ngân hàng có bị phạt không?
Có. Từ ngày 09/02/2026, Nghị định 340/2025/NĐ-CP quy định mức phạt mới đối với hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán.
Theo đó, trường hợp mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với từ 01 tài khoản đến dưới 10 tài khoản, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cá nhân có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng.
Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm theo quy định.
Như vậy, việc chỉ bán một vài tài khoản ngân hàng không có nghĩa là hành vi không bị xử lý. Mức phạt hành chính hiện hành đã ở mức rất cao nhằm ngăn chặn việc sử dụng tài khoản không chính chủ vào các hoạt động bất hợp pháp.
Bán từ 10 tài khoản ngân hàng trở lên bị phạt thế nào?
Trường hợp mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với từ 10 tài khoản trở lên, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mức phạt đối với cá nhân có thể lên tới 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng.
Đồng thời, người vi phạm còn có thể phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định, trong đó có việc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.
Điều này cho thấy pháp luật phân biệt mức độ xử lý dựa trên số lượng tài khoản được mua bán và mức độ của hành vi. Nếu số lượng lớn hoặc có thêm các dấu hiệu khác, vụ việc có thể chuyển từ xử phạt hành chính sang xem xét trách nhiệm hình sự.
Bán tài khoản ngân hàng khi nào có thể bị truy cứu hình sự?
Không phải mọi trường hợp bán tài khoản đều mặc nhiên bị phạt tù. Tuy nhiên, nếu hành vi đáp ứng các dấu hiệu của tội phạm theo Bộ luật Hình sự thì người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 291 Bộ luật Hình sự quy định về tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng. Theo đó, người nào mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Nếu thuộc trường hợp có số lượng từ 50 đến dưới 200 tài khoản, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc tái phạm nguy hiểm, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Trường hợp số lượng tài khoản từ 200 tài khoản trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng trở lên, mức phạt có thể là phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Luật sư Nguyễn Văn Hùng nhận định: Người bán tài khoản không nên cho rằng mình chỉ cung cấp tài khoản và không trực tiếp sử dụng tài khoản để thực hiện hành vi phạm pháp nên sẽ không chịu trách nhiệm. Nếu hành vi mua bán đáp ứng dấu hiệu của tội phạm, hoặc người bán biết và cố ý hỗ trợ hoạt động phạm tội của người mua, trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh tùy từng trường hợp.
Bán tài khoản ngân hàng để người khác lừa đảo có bị liên đới không?
Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm. Trên thực tế, có trường hợp một người bán tài khoản ngân hàng cho người khác và sau đó tài khoản được sử dụng để nhận tiền lừa đảo.
Việc người bán có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo hay không không thể xác định chỉ dựa trên việc tài khoản đứng tên người đó. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ phải làm rõ người bán có biết mục đích sử dụng tài khoản hay không, có thỏa thuận hoặc bàn bạc từ trước hay không, có trực tiếp tham gia hỗ trợ việc lừa đảo hay không và có được hưởng lợi từ hoạt động phạm tội hay không.
Nếu người bán biết rõ tài khoản được sử dụng để phục vụ hành vi phạm tội nhưng vẫn cố ý cung cấp, hỗ trợ hoặc cùng thực hiện, họ có thể bị xem xét trách nhiệm với vai trò đồng phạm hoặc về tội danh khác tùy hành vi cụ thể.
Ngược lại, nếu chỉ có hành vi vi phạm quy định về mua bán tài khoản mà không có căn cứ chứng minh người đó biết hoặc tham gia vào hành vi lừa đảo, trách nhiệm hình sự phải được xác định riêng đối với hành vi mà họ thực tế thực hiện.
Luật sư Đặng Quý Tiên lưu ý: Không nên giao tài khoản ngân hàng cho bất kỳ người nào với lý do “chỉ nhận tiền hộ”, “cho mượn vài ngày” hoặc “bán tài khoản không dùng nữa”. Khi tài khoản bị sử dụng để nhận tiền bất hợp pháp, chủ tài khoản có thể phải giải trình với ngân hàng và cơ quan chức năng về nguồn tiền, người sử dụng tài khoản và mục đích giao dịch.
Người bán tài khoản ngân hàng cần làm gì nếu phát hiện tài khoản bị sử dụng trái phép?
Nếu đã bán, cho thuê hoặc cho mượn tài khoản và phát hiện tài khoản đang được sử dụng vào mục đích bất hợp pháp, người đứng tên tài khoản nên chủ động thực hiện các biện pháp cần thiết để hạn chế hậu quả.
Trước hết, cần liên hệ ngay với ngân hàng để thông báo tình trạng tài khoản và thực hiện các biện pháp bảo vệ tài khoản theo hướng dẫn của ngân hàng.
Tiếp theo, nên lưu giữ các chứng cứ liên quan đến việc giao dịch tài khoản như tin nhắn, lịch sử trao đổi, thông tin người mua, thỏa thuận, chứng từ thanh toán và các dữ liệu khác. Những tài liệu này có thể giúp làm rõ diễn biến vụ việc khi cơ quan có thẩm quyền xác minh.
Nếu phát hiện tài khoản có giao dịch đáng ngờ hoặc có dấu hiệu liên quan đến lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, người đứng tên tài khoản nên chủ động trình báo cơ quan công an và cung cấp đầy đủ thông tin thay vì tiếp tục nhận hoặc chuyển tiền theo yêu cầu của người khác.
Ví dụ về hành vi bán tài khoản ngân hàng
A mở 15 tài khoản ngân hàng khác nhau rồi bán cho B để nhận tiền. A biết B mua các tài khoản nhằm phục vụ hoạt động chuyển tiền không chính chủ nhưng vẫn tiếp tục cung cấp tài khoản để nhận tiền công.
Nếu hành vi của A chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì A có thể bị xử phạt hành chính theo quy định hiện hành. Với số lượng từ 10 tài khoản trở lên, mức phạt có thể từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng nếu thuộc trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, nếu cơ quan điều tra xác định A thực hiện hành vi mua bán trái phép thông tin về số lượng tài khoản hoặc thu lợi bất chính đạt ngưỡng quy định tại Điều 291 Bộ luật Hình sự, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu A còn biết rõ B sử dụng tài khoản để nhận tiền lừa đảo nhưng vẫn tích cực hỗ trợ, bàn bạc hoặc tham gia vào hoạt động này thì trách nhiệm pháp lý của A có thể được xem xét ở phạm vi rộng hơn, tùy chứng cứ và vai trò thực tế.
Bán tài khoản ngân hàng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Có thể. Việc bán tài khoản ngân hàng không phải mọi trường hợp đều dẫn đến trách nhiệm hình sự, nhưng pháp luật đã có quy định xử phạt hành chính đối với hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán và mua, bán thông tin tài khoản thanh toán. Từ năm 2026, hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt đến 200 triệu đồng đối với cá nhân tùy số lượng tài khoản.
Trong trường hợp hành vi đạt các ngưỡng quy định tại Điều 291 Bộ luật Hình sự, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, với mức cao nhất lên đến 07 năm tù. Nếu tài khoản được sử dụng để lừa đảo hoặc thực hiện các hoạt động phạm tội khác, trách nhiệm pháp lý còn phụ thuộc vào việc chủ tài khoản có biết, tham gia hoặc cố ý hỗ trợ hay không.
Nếu bạn cần hỗ trợ, hãy đăng ký tư vấn trực tiếp hoặc online với Luật Thiên Mã để được giải đáp chi tiết, xây dựng phương án xử lý tối ưu với chi phí hợp lý, phải chăng và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Kết luận
Bán tài khoản ngân hàng để lấy tiền là hành vi tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý và không được pháp luật cho phép. Tùy số lượng tài khoản, số tiền thu lợi và tính chất hành vi, người bán có thể bị phạt hành chính từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng; trường hợp đủ dấu hiệu theo Điều 291 Bộ luật Hình sự còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù lên đến 07 năm.
Đặc biệt, nếu tài khoản được bán bị sử dụng để nhận tiền lừa đảo, rửa tiền hoặc thực hiện các hoạt động phạm tội khác, người đứng tên tài khoản có thể phải giải trình và có nguy cơ chịu trách nhiệm pháp lý nếu có căn cứ xác định họ biết, tham gia hoặc cố ý hỗ trợ. Vì vậy, cá nhân không nên bán, cho thuê, cho mượn tài khoản ngân hàng hoặc cung cấp thông tin tài khoản cho người khác sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào.
