Nhân viên kho thường được doanh nghiệp giao nhiệm vụ tiếp nhận, bảo quản, xuất nhập và quản lý hàng hóa. Nếu nhân viên tự ý lấy hàng của công ty đem bán cho người khác rồi giữ tiền để sử dụng cá nhân, hành vi này có thể xâm phạm trực tiếp đến tài sản của doanh nghiệp và làm phát sinh trách nhiệm pháp lý.
Tuy nhiên, không phải cứ nhân viên kho tự ý bán hàng là mặc nhiên phạm một tội danh cụ thể. Việc xử lý hình sự phụ thuộc vào cách nhân viên có được hàng hóa, quyền quản lý hàng, thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt, giá trị hàng hóa và phương thức bán hàng. Trong nhiều trường hợp, hành vi có thể được xem xét về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc trộm cắp tài sản.
Nhân viên kho tự ý bán hàng của công ty có phạm tội không?
Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có hành vi chiếm đoạt và đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của tội phạm.
Hàng hóa trong kho thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý hợp pháp của doanh nghiệp. Việc nhân viên được giao quản lý hàng không đồng nghĩa với việc họ có quyền tự ý lấy hàng bán cho người khác và sử dụng số tiền thu được.
Để xác định trách nhiệm hình sự, cần làm rõ nhân viên có được giao quản lý số hàng đó một cách hợp pháp hay không, có quyền xuất kho hay bán hàng hay không và ý định chiếm đoạt xuất hiện trước hay sau khi người này được giao hàng.
Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để phân biệt giữa lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản. Bộ luật Hình sự hiện hành quy định hai tội danh này tại Điều 175 và Điều 173.
Nhân viên kho tự ý bán hàng có thể phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trường hợp phổ biến là nhân viên được công ty giao hàng hóa một cách hợp pháp để quản lý, xuất bán hoặc thực hiện nhiệm vụ liên quan, sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt và đem hàng bán lấy tiền.
Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Theo khoản 1, người chiếm đoạt tài sản trị giá từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Tội danh này còn được xem xét khi người phạm tội nhận tài sản hợp pháp thông qua quan hệ hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hoặc đến thời hạn trả lại nhưng có điều kiện, khả năng mà cố tình không trả; hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại.
Ví dụ nhân viên kho được giao hàng rồi đem bán
A là nhân viên kho của công ty, được giao quản lý 100 thùng hàng trị giá 150 triệu đồng.
A không được phép tự ý bán hàng ngoài hệ thống nhưng đã lấy một phần hàng trong kho, bán cho người khác và giữ tiền để trả nợ cá nhân.
Nếu chứng minh được A được công ty giao hàng hóa hợp pháp để quản lý nhưng sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt, hành vi có thể được xem xét theo Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Nếu tài sản bị chiếm đoạt từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, khoản 2 Điều 175 quy định mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, mức phạt tù là từ 05 năm đến 12 năm; từ 500 triệu đồng trở lên, mức phạt tù là từ 12 năm đến 20 năm.
Nhân viên kho lấy hàng đem bán có thể bị xử lý về tội trộm cắp tài sản không?
Có thể, nếu bản chất hành vi là lén lút lấy tài sản của công ty để chiếm đoạt.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định Tội trộm cắp tài sản. Theo khoản 1, người trộm cắp tài sản trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một số trường hợp luật định, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Điểm cần chú ý là nhân viên làm việc tại kho không đồng nghĩa với việc họ đương nhiên được xem là người được giao tài sản. Nếu nhân viên không được giao quản lý số hàng mà lợi dụng việc làm việc tại kho để lén lấy hàng của công ty đem bán, hành vi có thể được xem xét theo Điều 173.
Ví dụ nhân viên lén lấy hàng trong kho
B là nhân viên kho nhưng chỉ có nhiệm vụ sắp xếp và kiểm kê hàng hóa.
B không được công ty giao quyền xuất hàng. Lợi dụng lúc không có người, B lấy 20 điện thoại trong kho, mang ra ngoài bán rồi giữ tiền.
Trong trường hợp này, nếu có đủ căn cứ chứng minh B lén lút lấy tài sản nhằm chiếm đoạt, hành vi có thể được xem xét về tội trộm cắp tài sản.
Như vậy, cùng là hành vi “nhân viên kho bán hàng của công ty” nhưng tội danh có thể khác nhau tùy vào cách người đó tiếp cận và quản lý hàng hóa trước khi chiếm đoạt.
Lưu ý từ Luật sư Đặng Quý Tiên: Khi xác định tội danh, không nên chỉ căn cứ vào chức danh “nhân viên kho”. Cần kiểm tra hợp đồng lao động, mô tả công việc, biên bản bàn giao, quyền xuất nhập kho, phần mềm quản lý hàng hóa và quy trình phê duyệt. Đặc biệt, cần xác định người đó được giao quản lý hàng hợp pháp rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt hay ngay từ đầu đã lén lấy hàng để bán.
Bán hàng của công ty nhưng đã trả lại tiền có còn bị xử lý hình sự không?
Việc hoàn trả tiền hoặc trả lại hàng hóa không đương nhiên làm mất trách nhiệm hình sự nếu hành vi đã có đầy đủ dấu hiệu của tội phạm.
Ví dụ, A lấy hàng trị giá 100 triệu đồng của công ty đem bán và sử dụng tiền cho mục đích cá nhân. Sau khi công ty phát hiện, A hoàn trả đủ 100 triệu đồng.
Việc hoàn trả tài sản có thể được xem xét khi giải quyết vụ án, nhưng cần phân biệt với việc ngay từ đầu người này không có ý định chiếm đoạt.
Nếu nhân viên thực sự chỉ lấy hàng nhầm, xuất hàng sai quy trình hoặc tạm ứng hàng vì lý do công việc và sau đó hoàn trả mà không có ý thức chiếm đoạt, thì không thể chỉ dựa vào việc hàng bị thiếu để kết luận có tội phạm.
Nhân viên kho bán hàng nhưng nói rằng “khách chưa trả tiền” thì sao?
Đây là trường hợp cần kiểm tra chứng cứ.
Ví dụ, nhân viên được giao xuất hàng cho khách, nhưng sau đó tự ý bán hàng ngoài hệ thống và báo cáo với công ty rằng hàng đã giao cho khách nhưng khách chưa thanh toán.
Nếu thông tin này được sử dụng để che giấu việc bán hàng và chiếm đoạt tiền, cơ quan có thẩm quyền sẽ phải xác định thủ đoạn gian dối được thực hiện vào thời điểm nào và nhằm mục đích gì.
Nếu người nhân viên được giao hàng hợp pháp rồi sau đó chiếm đoạt tiền hoặc hàng, Điều 175 có thể được xem xét. Nếu người này ngay từ đầu sử dụng thông tin gian dối để làm cho công ty giao tài sản hoặc để chiếm đoạt thì cần xem xét bản chất hành vi để xác định có thuộc Điều 174 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không.
Điều 174 quy định người dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng trong các trường hợp luật định, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Các khung hình phạt cao hơn được áp dụng khi giá trị tài sản và tình tiết vụ án đạt mức luật định.
Nhân viên kho tự ý bán hàng của công ty có bị phạt tù bao lâu?
Thời hạn phạt tù phụ thuộc vào tội danh và giá trị tài sản bị chiếm đoạt, chứ không chỉ dựa vào chức danh nhân viên kho.
Nếu bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm
Theo Điều 175:
- Chiếm đoạt từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng: có thể bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
- Từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng: phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc khoản 2;
- Từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng: phạt tù từ 05 năm đến 12 năm;
- Từ 500 triệu đồng trở lên: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Nếu bị xử lý về tội trộm cắp
Theo Điều 173, mức hình phạt cũng tăng theo giá trị tài sản và các tình tiết định khung.
Khoản 1 áp dụng với tài sản từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc các trường hợp đặc biệt đối với tài sản dưới 2 triệu đồng, với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Các khoản tiếp theo có thể áp dụng mức phạt từ 02 năm đến 07 năm, 07 năm đến 15 năm hoặc 12 năm đến 20 năm tùy trường hợp.
Giá trị hàng hóa được tính thế nào khi nhân viên bán nhiều loại hàng?
Nếu nhân viên lấy nhiều loại hàng hóa khác nhau để bán, việc xác định trách nhiệm hình sự cần làm rõ từng loại tài sản, số lượng, giá trị và tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt.
Ví dụ, nhân viên lấy 50 sản phẩm A, 30 sản phẩm B và 20 sản phẩm C rồi bán cho nhiều người khác nhau. Cơ quan có thẩm quyền cần xác định nguồn hàng, số lượng thực tế bị chiếm đoạt và giá trị tài sản theo căn cứ định giá phù hợp.
Không nên chỉ lấy số tiền nhân viên thực tế bán được để mặc nhiên xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Giá bán thực tế, giá trị hàng hóa và số tiền thu lợi có thể là những vấn đề khác nhau cần được phân biệt khi giải quyết vụ án.
Công ty cần làm gì khi phát hiện nhân viên kho tự ý bán hàng?
Khi phát hiện hàng hóa trong kho bị thất thoát do nhân viên tự ý bán, doanh nghiệp nên nhanh chóng:
- Kiểm kê và lập biên bản số lượng hàng hóa bị thiếu;
- Đối chiếu phiếu nhập, phiếu xuất và sổ kho;
- Kiểm tra lịch sử xuất hàng trên phần mềm;
- Trích xuất camera tại kho và khu vực giao nhận nếu còn dữ liệu;
- Xác định người có quyền xuất kho;
- Thu thập tin nhắn, email hoặc chứng từ liên quan đến việc bán hàng;
- Xác định số tiền nhân viên đã thu từ việc bán hàng;
- Làm rõ số hàng đã bán, còn giữ hoặc đã chuyển cho người khác;
- Yêu cầu nhân viên giải trình;
- Nếu có dấu hiệu tội phạm, doanh nghiệp có thể trình báo cơ quan có thẩm quyền để được xác minh, xử lý.
Những tài liệu này đặc biệt quan trọng để chứng minh hàng hóa thuộc công ty, nhân viên được giao quản lý đến đâu, hành vi bán hàng có được cho phép hay không và ý thức chiếm đoạt của người thực hiện.
>> Đặt lịch tư vấn với luật sư của chúng tôi và trải nghiệm dịch vụ pháp lý uy tín, nơi mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết hiệu quả và nhanh chóng!
Kết luận
Nhân viên kho tự ý bán hàng của công ty có thể bị xử lý hình sự nếu hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản và đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của tội phạm. Trường hợp nhân viên được công ty giao quản lý hàng hóa hợp pháp rồi sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt, đem hàng bán và giữ tiền cho mình, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự là một trong những tội danh cần xem xét. Nếu nhân viên không được giao hàng nhưng lén lấy hàng trong kho để bán thì có thể phải xem xét về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173.
Để xác định chính xác trách nhiệm, cần làm rõ quyền quản lý hàng hóa, quyền xuất kho, thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt, số lượng và giá trị hàng đã bán, số tiền thu được cũng như toàn bộ chứng cứ liên quan. Việc nhân viên đã trả lại hàng hoặc hoàn tiền sau khi bị phát hiện có thể được xem xét trong quá trình giải quyết nhưng không tự động loại trừ trách nhiệm hình sự nếu hành vi trước đó đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
