Luật sư doanh nghiệp

Hợp đồng kinh tế mang lợi nhuận - thiệt hại cho doanh nghiệp...

hop-dong-kinh-te-mang-loi-nhuan-thiet-hai-cho-doanh-nghiepHợp đồng kinh tế là cầu nối giữa các Thương nhân- chủ thể kinh doanh với nhau trên thương trường và là hoạt động phát sinh mang tính thường xuyên của thương nhân. Có thể nói trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, hầu như không có chủ thể kinh doanh nào không ký kết hợp đồng kinh tế (hay còn gọi hợp đồng thương mại). Nên hợp đồng kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự tồn tại, phát triển của Doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
Tuy nhiên việc am hiểu pháp luật, kỹ năng soạn thảo hợp đồng kinh tế của không ít chủ thể kinh doanh còn nhiều hạn chế...
Thứ nhất, xác định tên của loại hợp đồng kinh tế cụ thể: Nhiều trường hợp, hợp đồng kinh tế chỉ thể hiện tên gọi chung chung cũng là tên "hợp đồng kinh tế". Cách thể hiện như vậy là chưa cụ thể, khó phân loại hợp đồng cụ thể, khó xác định những điều khoản cơ bản hợp đồng và những chế định pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng này. Giải pháp cho vấn đề này là tùy từng đặc điểm của mỗi giao dịch để xác định là loại hợp đồng gì, ví dụ trong quan hệ mua bán hàng hóa thì cần ghi là "hợp đồng mua bán hàng hóa", trong quan hệ hợp tác đầu tư thì cần xác định cụ thể là "hợp đồng hợp tác đầu tư"...
Thứ hai, xác định không đúng người đại diện của đơn vị kinh tế có thẩm quyền ký kết hợp đồng. Nhiều chủ thể kinh doanh vẫn cứ nghĩ rằng Giám đốc Công ty là người đại diện đương nhiên theo pháp luật và việc họ ký hợp đồng là bảo đảm đầy đủ tư cách của chủ thể. Hiểu như vậy là quá đơn giản và hậu quả là rất có khả năng hợp đồng bị tuyên vô hiệu hoặc bị lợi dụng để lừa đảo...Theo quy định của pháp luật ngoài Giám đốc còn có thể là những người giữ chức vụ khác cũng có thể là đại diện theo pháp luật cho đơn vị kinh doanh và phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. Đối với trường hợp người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền ký hợp đồng, thì trong hợp đồng phải thể hiện nội dung giấy ủy quyền đó.
Thứ ba, sử dụng biện pháp chế tài "hủy bỏ hợp đồng" không chính xác: Trường hợp hợp đồng đã được các bên đưa vào thực hiện, trong quá trình thực hiện, một bên vi phạm nghiêm trọng hợp đồng là căn cứ (theo thỏa thuận hoặc theo quy định pháp luật) để chấm dứt hợp đồng, thực tế nhiều hợp đồng lại xác định đây là trường hợp áp dụng biện pháp chế tài "Hủy bỏ hợp đồng". Việc xác định biện pháp chế tài này là không đúng, vì "Hủy bỏ hợp đồng" theo Điều 312 Luật Thương mại chỉ áp dụng khi các bên chưa thực hiện hợp đồng và theo đó "hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết"(Điều 314 Luật Thương mại). Đối với trường hợp nêu trên, phải áp dụng biện pháp chế tài "đình chỉ thực hiện hợp đồng" theo Điều 310 Luật Thương mại và hậu quả pháp lý được áp dụng theo Điều 311 Luật Thương mại.

 

Thứ tư, một số nội dung của hợp đồng không quy định chặt chẽ: Quy định thời gian thực hiện hợp đồng, thời gian thực hiện nghĩa vụ thanh toán không cụ thể, hoặc không nêu rõ bắt đầu từ thời điểm nào, thời điểm chuyển giao rủi ro, chuyển giao quyền sở hữu, quyền quản lý về tài sản. Không thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng, không thỏa thuận về một số nghĩa vụ thanh toán do bên nào chịu, như chi phí bốc dỡ hàng hóa, lưu kho bãi...Khi soạn thảo hợp đồng cần lưu ý về mặt từ ngữ phải rõ ràng, cụ thể, chặt chẽ, đầy đủ, không nêu chung chung, cần trù liệu đầy đủ những tình huống phát sinh, nhất là đối với những hợp đồng có khối lượng lớn, giá trị lớn, đối tượng của hợp đồng đa dạng, hợp đồng ký kết với các đối tác mới, đối tác là người nước ngoài...
Thứ năm, thỏa thuận mức phạt vượt quá quy định đối với loại hợp đồng và một số thỏa thuận phương tiện thanh toán trái pháp luật:Trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, các bên có quyền thỏa thuận mức phạt nhưng cần lưu ý: đối với hợp đồng thương mại mức phạt tối đa không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301 Luật Thương mại. Nếu các bên thỏa thuận mức phạt vượt quá các mức nêu trên thì sẽ không có hiệu lực pháp lý phần vượt quá.
Thứ sáu, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng nên sử dụng đơn vị tiền tệ Việt Nam đồng trong hầu hết hợp đồng thương mại trong nước. Không sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền thanh toán (nếu không được phép của cơ quan chức năng). Nếu không tuân thủ quy định về phương tiện thanh toán nêu trên, thì nguy cơ giao dịch bị tuyên bố vô hiệu là có thực.
==========================================================================
"Bài viết này thuộc quyền sở hữu của Luật Thiên Mã, chúng tôi không ủng hộ cho việc sao chép"